John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (phần 1)

(Bài trong chuyên đề “Lý thuyết văn học – những động hướng khác”) 

Lời tác giả: Luận văn này được đăng trên tạp chí The Brock Review, số 1 năm 1993, trang 90-106. Bài luận này trình bày về lý thuyết đương đại từ một điểm nhìn mang tinh thần của hậu cấu trúc luận và nếu hôm nay được viết lại, tôi sẽ nhấn mạnh đến những mô thức nghiên cứu văn hoá, đến sự phát triển của những nghiên cứu về phái tính và về chủ nghĩa Tân duy sử hơn là những gì đã đề cập. Tuy nhiên, tôi tin rằng những gì nói ra ở đây vẫn còn thích hợp và đã mô tả đươc những thay đổi cổt lõi về hệ hình vốn đã điều chỉnh hướng đi và nhiệm vụ của lý thuyết văn chương 

Mark Rothko (1903-1970) - Untitled (Violet, Black, Orange, Yellow on White and Red), 1949.

Nghiên cứu văn chương trong các trường đại học hai thập kỷ qua được đánh dấu bởi mối quan tâm ngày càng lớn cũng như sự phân hoá thái độ một cách gay gắt đối với một loạt những cách tiếp cận lý thuyết liên đới với nhau được biết đến duới một cái tên chung là Lý thuyết văn chương. Ở nhiều khoa đã có sự chia rẽ giữa một bên là “dân lý thuyết” và phe đối phương – những người tự xem là mình là nguời bảo vệ cho những giá trị truyền thống đứng ở vị trí trung tâm của văn hoá chống lại cái đuợc coi là “chủ nghĩa phản nhân văn” của lý thuyết. Lý thuyết văn chương là bộ phận của một trào lưu có quy mô rộng rãi trong đời sống văn hoá, ảnh hưởng đến một số những nguyên lý, gây nên một số tranh luận gay gắt – một trào lưu đã khám phá và làm sáng tỏ bản chất phức tạp của “ý nghĩa”, “văn bản” (textuality) và “diễn dịch”. Lý thuyết văn chương không phải là một thực thể đơn lập mà là một loạt những khái niệm và thực hành có quan hệ với nhau – trong đó quan trọng nhất là giải cấu trúc, phê bình hệ tư tưởng hay phê bình chính trị hậu Althusser[1], phê bình tâm phân học hậu Lacan[2], phê bình tân duy sử luận (New Historicism) hay phê bình ‘văn hoá’, một số dạng thức của phê bình theo hồi ứng của độc giả và nhiều xu hướng của phê bình nữ quyền luận. Mục đích của bài luận này là xác định những vấn đề đã đặt nền móng cho những lý thuyết văn chương đương đại. 

Lý thuyết vẫn luôn hiện diện – từ việc xem xét văn học tồn tại thế nào, ý nghĩa là gì, thế nào là một tác giả, v.v… Những thực hành diễn dịch chiếm vị trí trung tâm vẫn còn hiệu lực và quyền uy trong học thuật hàn lâm giờ đang bị thách thức bởi lý thuyết hiện nay thực ra truớc kia đã từng mang tính cách mạng, những thực hành dựa trên những lý thuyết đó giờ đã trở thành quy tắc. Hai khuynh hướng thực hành phê bình chính yếu vào giữa thế kỷ này, một là truyền thống hình thức luận, hay “Phê bình mới”, xem văn bản như một hệ thống tạo nghĩa tương đối khép kín, phát triển sức mạnh biểu nghĩa khổng lồ của nó thông qua những đặc điểm hình thức và thông qua những xung đột, mơ hồ và trùng phức và hai là truyền thống Arnold[3] được thể hiện rất rõ trong trước tác của F.R.Leavis[4] và những người đi theo khuynh hướng của ông tập trung vào việc thẩm định năng lực của tác giả trong việc biểu hiện những kinh nghiệm luân lý một cách cụ thể và có sức thuyết phục. Trên thực tế, nhiều độc giả đã kết hợp những giá trị và phương pháp của những truyền thống này, cho dù nền tảng lý thuyết của họ có sự khác nhau. 

Lý thuyết văn chương đương đại: những vấn đề “bị đe doạ” 

Các lý thuyết và những thực hành diễn dịch thay đổi theo thời gian, phản ánh sự thay đổi của thế giới quan và chức năng của văn học; mỗi một quan điểm lý thuyết đều có xu hướng tìm ra nhược điểm của quan điểm trước đó – dường như đấy là một mô thức cách mạng thông thường, một sự thay đổi hệ hình có trật tự, giống một đứa trẻ nổi loạn phản ứng lại cha mẹ mình như một cách để khẳng định bản sắc của nó. Lý thuyết văn chương đã thách thức giả thuyết về sự phát triển tuần tự này, nó cho rằng sự biến động liên tục của văn hoá phản ánh sự bất ổn định cố hữu, những khiếm khuyết trong sự tưởng tượng về văn hoá; nó cho thấy không một “nghĩa” nào có thể khẳng quyết nó là nghĩa tối hậu đối với chúng ta. 

Lý thuyết văn chương đuơng đại đuợc đánh dấu bởi một số giả thuyết, mà ở đây tôi sẽ trình bày chín giả thuyết, mặc dù không phải mọi cách tiếp cận lý thuyết đều chia sẻ hay nhất trí với tất cả những giả thuyết này. 

  1. Nghĩa, theo như kiến giải gây ảnh hưởng mạnh mẽ của Saussure, đuợc tạo nên bởi sự khác biệt, chứ không phải “sư hiện diện” (sự đồng nhất giữa ký hiệu với đối tượng của ý nghĩa). Một từ mang nghĩa vì nó phân biệt với những từ khác trong cùng một vùng nghĩa (meaning-area), giống như một âm vị được nhận diện không phải nhờ âm thanh của nó mà nhờ sự khác biệt của nó với những âm đoạn khác. Không có nghĩa ổn định hay tuyệt đối, chỉ có những chuỗi khác biệt với những nghĩa khác mà thôi.
  2. Từ, tự thân nó, đã mang tính đa nghĩa và không có ngưỡng nào giới hạn sự xác định về nghĩa của nó (từ ngữ có nhiều tiềm năng phát nghĩa hơn là những gì dã đuợc thể nghiệm trong bất kỳ cách sử dụng nào). Do đó, chúng sở hữu những nghĩa tiềm ẩn vô hạn. Thêm nữa, những cấu trúc tu từ khiến các câu có thể biểu nghĩa nhiều hơn những gì hình thái ngữ pháp của chúng cho phép – phép mỉa mai là một ví dụ. Ngôn ngữ luón có khả năng biểu nghĩa nhiều hơn những gì nó đã phát lộ trong bất kỳ một văn cảnh nào. Từ phải có năng lực biểu nghĩa tiềm tàng vì như thế nó mới có khả năng kết hợp được, nghĩa là nó có thể ghép nối, vận động, tức là, có khả năng tạo dựng quan hệ và phát triển.
  3. Cách sử dụng ngôn ngữ là một hiện tượng phức tạp, khó nắm bắt hơn nhiều so với những gì mà thông thường chúng ta ngờ vực; cái mà chúng ta thường xem là ý nghĩa chỉ là bề mặt của một sân khấu có thật mà ở đó có sự tham gia của ngôn ngữ học, tâm lý và văn hoá – sự tham gia của những nhân tố này chúng ta không ý thức hết đuợc.
  4. Chính ngôn ngữ, chứ không phải một thứ “nhân tính” được xem là tất yếu hay một chân lý phi thời gian nào, là nhân tố trung tâm của văn hoá, ý nghĩa và bản sắc. Như Heidegger đã nhận định, con người không nói ngôn ngữ mà ngôn ngữ nói con nguời. Con người những hệ thống ký hiệu của ngôn ngữ, con người đuợc kiến tạo qua ngôn ngữ, mà những hệ thống đó và những ý nghĩa của chúng lại ngẫu nhiên, chắp vá, mang tính quan hệ.
  5. Do đó không có một “chân lý” hay một hiện thực nào mang tính chất cốt lõi – không có cái tuyệt đối, cái vĩnh hằng, không có một nền tảng bền vững nào của “chân lý” nằm dưới những lớp cát không ngừng trồi sụt của lịch sử. Chỉ có những “chân lý” cục bộ, nhất thời được các nhóm người tạo ra thông qua những thiết chế văn hoá của mình để thoả mãn những nhu cầu của họ về quyền lực, về sự tồn tại và sự kính trọng. Hệ quả là cả giá trị và bản sắc cá nhân đều là những “kiến tạo” văn hoá, không phải là những tên gọi ổn định. Như Kaja Silverman[5] đã chỉ ra thì ngay cả cái vô thức cũng là một “kiến tạo” văn hoá, vì cái vô thức đuợc cấu thành thông qua sự đè nén, mà lực tạo ra sự đè nén đó lại mang tính văn hoá và những gì là cấm kỵ đều bị công thức hoá bởi văn hoá.
  6. Theo đó, sẽ không có bản sắc trung tâm nào mang tính bền vững hay tất yếu đối với các cá nhân: một cá nhân hiện sinh như một quan hệ của những ý nghĩa và thực hành xã hội, của những áp lực tâm lý và ý thức hệ, của những cách sử dụng ngôn ngữ và những ký hiệu, biểu tượng khác. Cá nhân, do vây, là một hiện tượng phi trung tâm, không có một bản ngã ổn định; cá nhân chỉ là những tư thế chủ thể nằm trong địa hạt của văn hoá, hệ tư tưởng, sự biểu nghĩa vốn không ngừng biến chuyển.
  7. Nghĩa, bởi thế, đã hiện hữu như là những tấm mặt nạ trong đời sống xã hội của chúng ta một cách bình thường, thông qua nhiều phương thức khác nhau: bỏ sót, thay thế, khu biệt, nói nhầm và nghi hoặc. Tức là: cái thế giới của ý nghĩa mà ta nghĩ mình chiếm lĩnh được không phải là cái thế giới trên thực tế mà ta chiếm lĩnh. Thế giới mà ta chiếm lĩnh là một kiến tạo của hệ tư tưởng, một sự tưởng tượng về cách mà thế giới đó đã tạo hình thế giới của chúng ta, trong đó có cả “bản ngã” của ta, theo mục đích sử dụng của ta.
  8. Một văn bản, như Roland Barthes chỉ ra, về mặt từ nguyên, chính là một tấm vải, một vật được đan dệt; nó được đan dệt bởi những văn bản đã hiện diện trước đó và những cách sử dụng ngôn ngữ, những âm vang mà chúng bảo lưu một cách cố hữu (đôi khi chúng còn được gọi là quan hệ nòi giống (filiations) hay vết tích), bởi những quy chiếu và những tập quán (practices) lịch sử, bởi trò chơi (“chơi” tức là sự tiềm tàng về nghĩa cũng như khả năng kết hợp) của ngôn ngữ. Một văn bản không phải và không thể chỉ là “chính nó”, cũng không thể đuợc vật chất hoá, có nghĩa là trở thành “một vật”; một văn bản là một quá trình. Lý thuyết văn chương chủ trương thọc sâu vào chiều sâu, tính phức tạp và bất định của văn bản cho đến khi không chỉ tất cả hàm ý của những sự đa phức này mà còn cả những mâu thuẫn cố hữu trong chúng bị bóc trần.
  9. Không có cái “bên ngoài văn bản”, để dùng lại cụm từ của Derrida. Văn hoá và các cá nhân được kiến tạo thông qua những mạng lưới của những cách sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và diễn ngôn liên kết với nhau; toàn bộ cuộc sống này là một văn bản, là một chuỗi những quan hệ biểu nghĩa. Không thể cô lập bất cứ văn bản nào khỏi sự vận hành của nghĩa trong đời sống văn hoá, mọi văn bản đều kết nối và được tạo lập thông qua/ bởi các văn bản khác.

Lý thuyết đương đại như một bộ phận của “Khúc ngoặt diễn giải” (Interpretive Turn) 

Lý thuyết đương đại không đứng một cách biệt lập; nó nằm trong một trào lưu văn hóa rộng lớn hơn đã dẫn đến sự cách mạng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu – trào lưu này thường được hiểu là “khúc ngoặt diễn giải”. Thực chất, “khúc ngoặt diễn giải” đã được Kant giới thiệu cách đây hai thế kỷ khi ông cho rằng cái chúng ta trải nghiệm như là “thực tại” được tạo nên bởi những phạm trù thuộc về trí tuệ của con người, mặc dù theo ông, những phạm trù này mang tính ổn định và siêu nghiệm. Nietzsche thì quan niệm không có những chân lý nền tảng, lịch sử và kinh nghiệm chỉ là những mảnh vỡ và ngẫu nhiên, bị điều khiển bởi ý chí vươn đến quyền lực. Marx và Freud thì biện luận rằng cái đuợc coi là thực tại, trên thực tế, bị nhào nặn và chi phối bởi những sức mạnh mà chúng ta chỉ nhận thức được một cách gián tiếp, nếu cố nhận thức, nhưng chúng ta có thể tái tạo lại chúng nếu hiểu những quá trình biến đổi mà kinh nghiệm của chúng ta trải qua. Điểm mới của khúc ngoặt diễn giải lần này là sự thấu thị những điều nói trên cùng những tư tưởng của các học giả có tầm ảnh hưởng mạnh đã hoà kết lại thành những hiện tượng xã hội học đặc biệt, một thế lực văn hoá, một khoảnh khắc chân thực (genuine moment) trong lịch sử và chúng đã dẫn đến những tranh cãi về phương pháp luận cùng những thay đổi trong những thực hành của khoa khoa học xã hội và nhân văn. 

Một số ý tưởng trọng tâm của khuynh hướng diễn giải này: người quan sát tất yếu cũng là kẻ tham dự vào cái được quan sát; người nhận thông điệp là một nhân tố của thông điệp; thông tin chỉ là thông tin khi nó được văn cảnh hoá; các cá nhân là các kiến tạo văn hoá mà thế giới ý niệm của mỗi người được tạo nên bởi những cấu trúc diễn ngôn khác nhau, hay bởi những cách nói, những sự tưởng tượng về thế giới; thế giới của mỗi cá nhân không chỉ đa bội và đa dạng mà còn được kiến tạo bởi/thông qua vùng tương tác của những biểu tượng văn hoá, đặc biệt là qua ngôn ngữ; do đó, mọi sự diễn dịch đều bị điều kiện hoá bởi nhãn quan văn hoá và được dàn xếp bởi các biểu tượng và sự thực hành; các văn bản đều kéo theo những văn bản ngầm, chìm bên dưới (sub-texts), hay những cội nguồn và những lực cấu trúc thuờng xuyên được ngụy trang hoặc vùi sâu của các thông điệp. 

Sự diễn giải được nhìn nhận không phải như là hành vi làm sáng tỏ một chân lý hay một ý nghĩa đã tồn tại trước đó, có vẻ như tồn tại khách quan “tại đó”, mà là sự ấn định một ý nghĩa nào đó được xem là đúng đặt trong ngữ cảnh thế giới khái niệm của những chủ thể diễn giải. Không có “thông điệp” nào cũng như không có sự diễn giải nào trong suốt hoặc vô tư thuần khiết vì chúng được cấu trúc bởi những lực cấu thành thuộc về văn hoá và mang tính cá nhân vốn thường xuyên bị nhấn chìm xuống bên dưới. Trong sự diễn giải văn hoá, văn hoá được quan niệm như một văn bản, một hệ thống các diễn ngôn cấu trúc nên thế giới của văn hoá và kiểm soát những hoạt động và ý nghĩa của văn hoá. Chính vì cách mà các diễn ngôn được thiết lập và tương tác, người ta bao giờ cũng phải đọc qua/ giữa/ dưới các diễn ngôn đó, cùng lúc đọc tự đọc lại chính cái đọc. 

Những “sự nguy hiểm” của lý thuyết văn chương.
Đối với nhiều nguời, dường như lý thuyết văn chương đã tấn công vào giá trị cốt lõi của văn chương và việc nghiên cứu văn chương. Nếu mọi thứ đều là văn bản thì văn học cũng chỉ là một thứ văn bản khác mà thôi, không có sự đặc quyền cá biệt nào, ngoại trừ sức mạnh thuyết phục của nó. Nếu như không có ý nghĩa hay chân lý tất định nào và nếu con người là những kiến tạo văn hoá không được đặt trên nền móng của bất kỳ một thứ “nhân tính” phổ quát, cũng không được chống trụ bằng những chân lý xuyên lịch sử nào, vậy thì không những vai trò của văn học như một phát ngôn đặc quyền của những giá trị phổ quát mà bản thân sự tồn tại của những giá trị đó cũng bị đe doạ. Nếu sự diễn giải chỉ mang tính cục bộ và ngẫu nhiên, vậy thì sự ổn định và chắc chắn của ý nghĩa trở nên đáng ngờ vực và vai trò của văn học như một kênh truyền bá những lẽ phải và như một thế lực văn hoá cũng bị giảm thiểu. Nếu sự diễn giải phụ thuộc vào chủ thể diễn giải, vậy thì việc quan tâm đến chủ ý của tác giả trở nên vô ích. Sự ổn định về nghĩa trở nên “có vấn đề” khi người ta hồ nghi bản chất của những lực lượng chi phối nó hoặc những mục tiêu mà nó cố nhắm tới. Những kiến tạo mang tính chất tưởng tượng như văn học, trên thực tế, có thể chỉ là những phương thức hiệu quả để nguỵ trang cho việc thi triển quyền lực, che đậy những lường gạt, những nứt rạn, bất công mà một nền văn hoá phải rất vất vả để làm mờ nhoà chúng đi. Cuối cùng, lý thuyết được xem như là kẻ tấn công vào chính nền tảng của giá trị và ý nghĩa, vào chính những giá trị nhân tính siêu nghiệm mà tri thức của nhân loại được đặt trên đó, và tấn công vào chính chủ nghĩa nhân văn, sự hiện hữu của cái cá nhân độc lập, mang phẩm chất luân lý, mang tính thống nhất cao, kẻ có thể kiểm soát được ý nghĩa, chủ ý và hành động của mình. 

Khi lý thuyết ngày càng chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong các khoa ngữ văn Anh thì nghiên cứu văn chương theo quan điểm của nhiều người đã chuyển từ nghiên cứu bản thân văn học sang nghiên cứu lý thuyết. Và khi người ta chú ý đến văn học như là sự biểu đạt văn hoá về đời sống, quan tâm đến tính văn bản (textuality) của tất cả kinh nghiệm thì đường phân định giữa văn học và những hình thức giải trí bình dân hơn bị thách thức; những thể loại như truyện trinh thám hay diễm tình cũng được xem xét một cách nghiêm túc và cặn kẽ như những tác phẩm điển phạm. Bản thân các điển phạm, tập hợp những văn bản được xem là đáng nghiên cứu, học hỏi bởi những chuyên gia đầu ngành cũng bị công kích là mang tính vị chủng, gia trưởng và đặc tuyển cũng như tham vọng trở thành cái tất yếu vì nó muốn tạo ra một ý niệm rằng những điển phạm là những thực thể độc lập, mang giá trị tự tại và những quyền uy siêu nghiệm; chúng không bị cắm rễ vào những môi giới và những sự khả nhiên của lịch sử. 

Chính trong trường hợp này lý thuyết văn chương đã thách thức những giả định nền tảng, nó xác định thiên huớng của mình là hoài nghi, rằng trong thực tiễn, nó vừa là nhân tố phá huỷ mọi giá trị vừa thuần tuý mang tính trò chơi. Tuy nhiên vấn đề nằm ở chỗ lý thuyết có những lý do tốt đẹp nào không khi nó tra vấn những giả định truyền thống, và rằng liệu nó có dẫn đến những thực hành diễn giải mà cuối cùng cũng có thể đem đến những hiểu bi và giá trị để vun đắp nên một cuộc sống có ý nghĩa và chính đáng. Sẽ rất có tác dụng nếu ta tiến hành xem xét ba khu vực của ý nghĩa trong văn học để làm rõ hơn những lý do biện hộ cho chỗ đứng của lý thuyết, đó là: ngữ cảnh, hệ tư tưởng và diễn ngôn, và cuối cùng là bản thân ngôn ngữ. 

Ghi chú: John Lye là giáo sư, chủ nhiệm khoa Ngôn ngữ và Văn chương Anh tại Đại học Brock từ năm 2001 -2008 

Nguồn: http://www.brocku.ca/english/courses/2P70/contemporary_literary_theory.php 

Hải Ngọc dịch 

Các bài viết khác trong chuyên đề:  

 Trần Đình Sử – Lý luận văn học – Khủng hoảng và lối thoát

Lã Nguyên  – Số phận lịch sử của nền lý luận văn học Xô viết chính thống


[1] Louis Althusser (1918 -1990) nhà triết học mác xít người Pháp. Một số công trình tiêu biểu: “For Marx” (Dành cho Marx”, “Lenin and Philosophy and Other Essays” (Lenin và triết học cùng những tiểu luận khác”… 

[2] Jacques Lacan (1901-1981), nhà phân tâm học, triết gia người Pháp, người tạo ảnh hưởng quan trọng bậc nhất đối với những tư tưởng hậu cấu trúc. Một số công trình tiêu biểu: “The Language of the Self: The Function of Language in Psychoanalysis” (Ngôn ngữ của bản ngã: Chức năng của ngôn ngữ trong phân tâm học”; “Écrits” (Tuyển tập các bài viết); “The Four Fundemental Concepts of Psychoanalysis” (Bốn khái niệm then chốt của phân tâm học”… 

[3] Matthew Arnold(1822-1888): nhà thơ, nhà phê bình văn hoá người Anh có ảnh hưởng lớn trong thời đại Victoria của nước Anh. 

[4] Frank Raymond Leavis (1895-1978), nhà phê bình văn học người Anh có ảnh hưởng lớn trong khoảng thời gian từ đầu đến giữa thế kỷ XX. 

[5] Kaja Silverman: Giáo sư tại Đại học Yale Mỹ, chuyên gia lý thuyết phim và lịch sử nghệ thuật. Công trình gây tiếng vang lớn của bà là “The Subject of Semiotics” (Chủ thể của ký hiệu học). Năm 2008, bà là học giả nhận được giải thưởng Guggenheim Fellowship.

About lythuyetvanhoc

Bộ môn Lý luận văn học, khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm, Hà Nội
This entry was posted in dịch thuật, lý thuyết văn học, trần ngọc hiếu (hải ngọc) and tagged , , . Bookmark the permalink.

Có 9 phản hồi tại John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (phần 1)

  1. Pingback: John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (Phần 2) | Lythuyetvanhoc's Blog

  2. Javous nói:

    Chính trong trường hợp này lý thuyết văn chương đã thách thức những giả định cốt yếu, nó xác định thiên huớng của mình là hoài nghi, rằng trong thực tiễn, nó vừa là nhân tố phá huỷ mọi giá trị hoặc thuần tuý mang tính trò chơi.
    -> Câu này em nghĩ chưa được ổn lắm. Crucial hay essential mới là cốt yếu, còn fundamental nên dịch là những giả định nền tảng thôi.
    vừa… vừa chứ không phải vừa… hoặc. Với lại “mang tính trò chơi” em thấy chưa được ổn. playful ở đây em dịch là mang tính xảo năng.

    • Cảm ơn bạn đã phát hiện hai chỗ mình dịch không ổn là chữ “fundamental” và cấu trúc “vừa…vừa”. Riêng chữ “playful” mình vẫn chọn giải pháp dịch là tính trò chơi. Chữ “xảo năng” bạn gợi ý theo mình cũng là một từ hay, nhưng nó nhấn mạnh đến việc lý thuyết văn học biến thành một cái gì đó có tính kỹ thuật, kỹ xảo thuần túy. Đó, mình nghĩ, cũng là một khía cạnh của tính trò chơi. Hơn nữa, tính trò chơi trong lý thuyết văn học nó còn thể hiện ở chỗ nhiều khi sự đọc, sự diễn giải,v.v. nó mang khía cạnh phiêu lưu, hướng đến chính nó hơn là những khía cạnh bên ngoài chẳng hạn như đạo đức (theo nghĩa truyền thống).
      Bản dịch chắc chắn còn chưa ổn nhiều chỗ nhất là từ phần 2 trở đi. Nếu có thời gian, mình rất mong bạn tiếp tục góp ý để bản dịch ngày càng tốt hơn.
      Chúc bạn cuối tuần có nhiều niềm vui.
      Trân trọng
      Hải Ngọc

  3. Javous nói:

    Bản dịch của anh Hải Ngọc khá mượt và sáng sủa. Em xin góp ý phần đầu.

    liên đới với nhau -> liên đới [vì là trùng ngữ]
    anti-humanism -> phản-nhân sinh [anti-human-ism khác với anti-humanity-ism]
    textuality -> tính văn bản (?)
    Những thực hành diễn dịch chiếm vị trí trung tâm vẫn còn hiệu lực và quyền uy trong học thuật hàn lâm giờ đang bị thách thức bởi lý thuyết hiện nay thực ra truớc kia đã từng mang tính cách mạng, những thực hành dựa trên những lý thuyết đó giờ đã trở thành quy tắc.
    ->
    Những thực hành diễn dịch trung tâm, vẫn còn hiệu lực và quyền uy trong giới học thuật giờ đang bị thách thức bởi lý thuyết, vốn mang tính cách mạng, và là những thực hành dựa trên lý thuyết giờ đã trở thành quy tắc.

    tập trung vào việc thẩm định năng lực của tác giả
    -> chú tâm, đánh giá cái khả năng của tác giả

    những khiếm khuyết trong sự tưởng tượng về văn hoá; nó cho thấy
    -> những khiếm khuyết trong sự tưởng tượng về văn hoá, mà những khiếm khuyết này cho thấy sự bất khả…

    polysemic dịch là đa nghĩa thực sự chưa chuẩn lắm vì phải hiểu là poly + sign

    của một sân khấu có thật -> của một sân khấu trọng yếu hơn nhiều

    một thứ “nhân tính” được xem là tất yếu -> một thứ “nhân tính” chính yếu

    nexus mang nghĩa bond, tie hơn chỉ là “quan hệ”

    de-centered -> giải trung tâm?

    cái số 8, đoạn trong ngoặc khá là quan trọng

    “chơi” tức là sự tiềm tàng về nghĩa cũng như khả năng kết hợp
    -> “chơi” hiểu là sự đa dạng về nghĩa và là khả năng rành mạch (?)

    những mạng lưới của những cách sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và diễn ngôn liên kết với nhau -> những mạng lưới của ngôn ngữ phân nhánh, của biểu tượng và những cách sử dụng diễn ngôn

    • Cảm ơn nhận xét của bạn. Quả thật có một số câu mình phân tích ngữ pháp nguyên bản chưa chuẩn nên dịch hơi rối. Mình đang xem xét và tiếp tục hiệu chỉnh.
      Tuy nhiên có một số chỗ mình muốn tham khảo ý kiến của bạn. Đúng là polysemic mà dịch thành đa nghĩa là hơi đơn giản hóa khái niệm. Polysemic = poly + sign, nhưng như thế bạn có giải pháp tiếng Việt nào cho từ này?

      Thứ hai là [anti] humanism – bạn đề nghị dịch là phản nhân sinh. Theo một số sách tiếng Việt mình đọc humanism thường được dịch là chủ nghĩa nhân văn, một tinh thần thống trị tư tưởng, luân lý phương Tây từ thời phục hưng. Chữ nhân sinh mình lại nghĩ là loài người nói chung. Chính vì thế theo mình thì chữ phản nhân sinh lại không thật phù hợp lắm trong context này.

      Rất mong tiếp tục nhận được sự trao đổi từ bạn. Thành thật mà nói, từ phần 2 trở đi, mình đã lúng túng hơn rất nhiều trong việc dịch thuật. Nên mọi sự góp ý đều rất có ý nghĩa với mình.
      H.N

  4. Pingback: John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (Phần cuối) | Lythuyetvanhoc's Blog

  5. Javous nói:

    Về anti-humanism. Em cũng thấy người ta hay dùng “triết lý nhân sinh”, nhưng “chủ nghĩa nhân văn”, và nếu đi theo hướng đấy thì dịch phản nhân văn là đúng rồi. Nhưng em đặt vấn đề thế này: nhân sinh nôm na là đời sống con người, nhân văn là văn minh loài người, và humanism là chủ nghĩa tin rằng sự giải thoát con người là do con người quyết định-hay có thể định nghĩa khác nhưng nói chung hiểu là human+ism; vậy thì nói “nhân văn chủ nghĩa” có phải là bao la quá, hay nên chăng là “nhân sinh chủ nghĩa”? Đấy là em mạn đàm, chứ chủ đề này có vẻ lớn quá.

    Về polysemic, em vẫn để ngỏ vì chưa biết dịch thế nào cho chuẩn. “Đa biểu” được không ạ? [“biểu” theo nghĩa là bề ngoài]

  6. Pingback: Phạm Quốc Lộc – Dịch và đại tự sự | Lythuyetvanhoc's Blog

  7. Pingback: Trần Đình Sử – Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc | Lythuyetvanhoc's Blog

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s