John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (Phần 2)

(Bài trong chuyên đề “Lý luận văn học – Những động hướng khác”)

Phần 1

Paul Klee (1879 -1940) - Goldfish (1925)

Vấn đề ý nghĩa: văn cảnh và liên văn bản (context and inter- text)

Người ta thường nghĩ quá trình của ý nghĩa trong văn học rất sáng rõ: nhà văn viết sách, với những ý tưởng mà họ muốn nói lên; họ nói theo những cách sao cho thật mạnh mẽ, lay động và thuyết phục; độc giả đọc cuốn sách, tuỳ thuộc vào năng lực và trình độ của mình cũng như sự thành công của tác giả, lĩnh nhận thông điệp. Và cái thông điệp đó, chắc chắn, là mục đích. Song chính ở điểm giao này, cái mô thức giao tiếp đơn giản trên trở nên “có vấn đề”. Tác giả viết ra một văn bản. Nhưng ông ta viết văn đó trong ít nhất là bốn loại văn cảnh –context (lưu ý sự hiện diện của từ “text” – văn/văn bản – ở đây) mà không phải tất cả những văn cảnh đó, tác giả đều có thể nhận thức được đầy đủ. Trước hết là những văn cảnh thẩm mỹ – những văn cảnh về nghệ thuật nói chung, về vai trò được quan niệm của nó trong văn hoá, về phương tiện của văn bản, thể loại văn bản, những truyền thống thẩm mỹ đặc biệt mà người nghệ sĩ chọn lựa và kế thừa, về phong cách thời đại mà người nghệ sĩ đã viết theo. Thứ hai là những điều kiện văn hoá và kinh tế của việc tạo ra và tiếp nhận văn bản – tức là “thế giới của nghệ thuật” đã giao tiếp với phần còn lại của thế giới xã hội thế nào, tác phẩm được ra đời như thế nào, nó được xác định như thế nào, được lưu hành ra sao, công chúng là ai, họ đối xử với tác phẩm như thế nào, sử dụng nghệ thuật tức là gì, nghệ thuật được phân loại về mặt tính chất xã hội như thế nào. Thứ ba là những ngữ cảnh thuộc về lịch sử cá nhân của bản thân người nghệ sĩ và sự diễn dịch văn hoá về cái lịch sử cá nhân đó và ý nghĩa của nó đối với anh ta như một cá nhân và như một nghệ sĩ. Cuối cùng và quan trọng nhất, văn hoá có những ý nghĩa và phương pháp rộng lớn hơn; những nền văn hoá phụ, giai cấp, chủng tộc, khu vực và phái tính cũng vậy – tẩt cả đều được thiết lập về mặt văn hoá, được đánh dấu (hay được tạo ra) bởi những cách biểu đạt và phân biệt các thái độ, tư tưởng, quan niệm và biểu tượng. Chúng chứa đựng trong đó quan niệm về thế giới được hình dung như thế nào, được bàn luận ra sao, quan niệm và sự phân bổ quyền lực, cái gì được xem là bản chất và giá trị, đâu là những nền tảng và xác nhận của giá trị, quan hệ giữa cá nhân và các nhóm đuợc khái niệm hoá như thế nào.

Đó là những suy tưởng cơ bản nhất về văn cảnh của việc tạo ra một tác phẩm văn chương. Một số văn cảnh có thể được tác giả nhận thức một cách tường minh, một số chỉ có thể cảm nhận một cách hàm ẩn, một số không nhận thức được và hầu như không thể biết đến. Mọi văn cảnh đều điều chỉnh, sửa đổi, làm lệch hướng, cấu trúc lại “ý nghĩa”. Sẽ dễ dàng hơn để làm chủ được sự diễn giải nếu cùng những cưỡng chế của ngữ cảnh đó lại không tương thích với độc giả. Cả tác giả và độc giả đều được định vị về mặt thẩm mỹ, văn hoá, nhân cách, kinh tế, nhưng thường là ở những vị trí khác nhau. Độc giả có một ngữ cảnh rộng hơn về lịch sử và những truyền thống của việc diễn giải văn bản. Khi ta đọc Hamlet, chúng ta đọc nó như một văn bản đã đuợc diễn giải trước chúng ta và đối với chúng ta, theo những cách thức nhất định, nó không còn đơn thuần là văn bản mà Shakespeare đã viết trước đó hay đoàn kịch của ông đã trình diễn, mà là một văn bản nào đó đã được trải nghiệm.

Một văn cảnh quan trọng, mang tính trung tâm, tất yếu của bất cứ văn cảnh nào là sự tồn tại của những văn cảnh khác. Bất cứ tác phẩm văn chương nào, kể cả những tác phẩm sơ sài nhất, cũng nhất định có sự quy chiếu và gợi dẫn đến những tác phẩm cùng thể loại với nó trước đó, đến những văn bản khác trong nền văn hóa và những truyền thống của nó, đến những kết cấu diễn ngôn của văn hóa. Sự tạo ra ý nghĩa từ những hình thức biểu đạt ý nghĩa trước đó và có liên hệ gần được lý thuyết văn học gọi là hiện tượng “liên văn bản”. Bất kỳ cái gì là văn bản tất yếu đều nằm trong quá trình vận hành của diễn ngôn trong nền văn hóa, cái mà ta có thể gọi là liên văn bản: nó chỉ có thể mang nghĩa vì có những văn bản khác mà nó dẫn chiếu và phụ thuộc vào đó để thụ nghĩa. Từ đó suy ra, “nghĩa” trên thực tế được phát tán khắp liên văn bản, nó không đơn thuần chỉ nằm trong văn bản mà thôi. Phạm vi của liên văn bản được mở rộng không chỉ đến những truyền thống và cách vận dụng thể loại, và văn học nói chung, mà còn sang cả những truyền thống tri thức, ngôn ngữ và những tranh biện, những trải nghiệm cảm xúc, những cách diễn dịch văn hóa về kinh nghiệm, những biểu tượng trung tâm, tất cả những hình thức biểu đạt ý nghĩa trong nền văn hóa: nó là một mạng lưới những ám chỉ và quy chiếu. Đây chính là cơ sở để đặt ra nghi vấn một cá nhân có thể có sáng tạo một văn bản đến mức độ nào? Trong số những ý nghĩa liên văn bản này, nhiều ý nghĩa có thể không hiển lộ rõ đối với độc giả, những người bị đặt trong môi trường liên văn bản để tham dự vào sự cấu thành ý nghĩa. Tất cả ý nghĩa của văn bản đều phụ thuộc vào ý nghĩa của liên văn bản, và sự diễn dịch văn bản của chúng ta lại phụ thuộc vào quan điểm đã bị văn cảnh hóa của chúng ta và những quy tắc mà Stanley Fish đã gọi là “cộng đồng diễn giải”, những hiểu biết và phương pháp diễn giải của chúng ta được xác định về tính chất xã hội.

Vấn đề ý nghĩa – diễn ngôn và hệ tư tưởng

Khu vực chính thứ hai cấu thành ý nghĩa là diễn ngôn và hệ tư tưởng. “Diễn ngôn” là thuật ngữ thường được coi là gắn bó mật thiết nhất với tên tuổi của Michel Foucault; nó biểu thị cách thức mà theo đó, ý nghĩa được thiết lập, được thể hiện và bị kiểm soát trong một nền văn hóa thông qua cách sử dụng ngôn ngữ của nó. Mỗi nền văn hóa đều có những cách đặc thù để nói về và từ đó khái niệm hóa các kinh nghiệm, đồng thời chúng cũng có những quy tắc cho phép cái gì có thể được nói và không được nói cũng như để kiểm soát và tổ chức các cuộc trò chuyện. Thông qua diễn ngôn, chúng ta hình thành kinh nghiệm của mình, và một sự phân tích diễn ngôn có thể phát lộ ra cách chúng ta đã nhìn thế giới như thế nào – trong trường hợp của Foucault, đặc biệt nó phơi bày ra những cách thức biến đổi và phức tạp mà theo đó, quyền lực được phân phát và thực thi. Bởi ngôn ngữ là hệ thống biểu tượng nền tảng, qua đó, văn hóa được tạo lập và duy trì, ta có thể nói rằng mọi thứ đều là diễn ngôn, nghĩa là, chúng ta chỉ bộc lộ như là những gì mà ta gán ý nghĩa cho, chúng ta lại gán ý nghĩa bằng ngôn ngữ và ý nghĩa thông qua ngôn ngữ lại bị kiểm soát bởi những cấu trúc diễn ngôn của một nền văn hóa. Không có cái bên ngoài văn bản; kinh nghiệm của chúng ta được cấu thành bởi cách mà chúng ta nói về kinh nghiệm và do vậy tự thân nó là một kiến tạo mang tính văn hóa, tính ngữ học.

Song diễn ngôn không phải là một hiện tượng nhất thể. Một trong những đóng góp vĩ đại của nhà lý luận về ngôn ngữ và văn học người Nga, Mikhail Bakhtin, là khái niệm đa thanh. Khái niệm đa thanh có thể ví với hiện tượng khí tượng: bầu trời trông có vẻ như một thực thể nguyên khối, nhất thể nhưng nếu người ta thử quan sát, xem xét kỹ hơn, sẽ nhận thấy hóa ra bầu trời đó đầy những gió tạt, gió xoáy, những mức dao động nhiệt độ, những luồng không khí đi lên đi xuống, v.v…Tương tự, ngôn ngữ của một nền văn hóa đầy những sự giao cắt của những cách sử dụng ngôn ngữ – từ cách sử dụng ngôn ngữ của các giai cấp, nghề nghiệp đến các phong trào, thế hệ, phái tính, vùng miền, vân vân, một sự bội trương của những hành vi biểu nghĩa và các liên văn bản tương tác với nhau.

Bởi diễn ngôn cấu tạo nên thế giới quan và bởi nó hằn sâu những mối quan hệ quyền lực, thế nên tất yếu nó có mối liên kết với hệ tư tưởng. Theo cách sử dụng của Marx, thuật ngữ này biểu thị ý niệm rằng những quan niệm của chúng ta về cấu trúc xã hội và cấu trúc hiện thực – cái có vẻ như là những sự kiện thực tế – là sản phẩm của những quan hệ kinh tế. Những nhà tư tưởng gần đây, theo Gramsci[1] và Althusser, đã hiểu hệ tư tưởng với hàm nghĩa rộng hơn, như là những thực hành xã hội và những sự khái niệm hóa đưa chúng ta trải nghiệm thực tại theo một cách nhất định nào đấy. Hệ tư tưởng, Althusser viết, là quan hệ tưởng tượng của chúng ta với những điều kiện tồn tại có thật; tính chủ thể của chúng ta được hình thành bởi quan hệ ấy, chúng ta bị nó “cuốn vào”, bị nó định hướng để nhìn thế giới theo một cách nhất định nào đấy. Hệ tư tưởng là bộ phận hàm ẩn, tất yếu của ý nghĩa, nó nằm trong cách chúng ta định hình thế giới. Nhưng hệ tư tưởng lại luôn che đậy, hay luôn “làm tự nhiên hóa”, những bất công và những thiếu sót mà nó tất yếu tạo ra, bởi quyền lực luôn nằm trong tay một cá nhân hay tầng lớp nào đó và do vậy, sẽ gây áp lực lên cách hiểu của chúng ta về văn hóa khiến cho việc thi triển quyền lực trông có vẻ bình thường, hợp thức và sự vi phạm dường như trở thành đương nhiên. Ví dụ, trong quá khứ, rõ ràng có thể thấy rõ tại sao phụ nữ luôn bị xem là thua kém. Về thể chất, phụ nữ yếu hơn; về tình cảm, họ đa cảm hơn, không duy lý lý bằng đàn ông. Kinh Thánh bảo rằng họ thua kém và Tự nhiên cũng bảo như vậy. Đàn ông không nghĩ là họ áp chế phụ nữ; sự thua kém của phụ nữ là một sự kiện thực tế, cũng như là sự thua kém của người da đen, của trẻ con, những người khuyết tật, người điên, người mù chữ, giai cấp lao động. Lý thuyết gia Pierre Macherey[2] cho rằng có thể xem xét bất kỳ cấu trúc của hoạt động giao tiếp nào để thấy được nhãn quan tư tưởng hệ của nó thông qua những sự đứt gãy, sự im lặng, những mâu thuẫn được giấu bên trong văn bản, cũng như là thông qua tất cả những giả định ngầm của nó về bản chất của thế giới.

Chủ nghĩa cấu trúc/Hậu cấu trúc

Khái niệm hệ tư tưởng là một khái niệm của chủ nghĩa cấu trúc, và như là hệ quả, nó cũng nằm trong tư tưởng hậu cấu trúc luận. Chủ nghĩa cấu trúc là một trào lưu rộng lớn có tham vọng định vị những nguyên lý vận hành đặt nền móng cho các hoạt động và ứng xử; tầm quan trọng của nó đối với lý thuyết văn chương là rất đáng kể, mặc dù lý thuyết văn chương đã phủ định một số giả định của nó. Hai lý thuyết trung tâm của chủ nghĩa cấu trúc là phân tâm học của Freud và lý thuyết kinh tế/chính trị của Marx. Đặc điểm để đánh dấu những lý thuyết này như những lý thuyết của chủ nghĩa cấu trúc là việc chúng định vị những lực tạo sinh ở bên dưới hoặc phía sau cái hiện thực được tri giác, những lực vận hành theo những quy luật chung thông qua những quá trình biến đổi. Trong các lý thuyết cấu trúc, động cơ hay những lực tạo sinh được tìm thấy không phải ở trong một thứ tiền văn bản (pre-text) nào mà ở trong một thứ văn bản phụ/văn bản chìm (sub-text); bề mặt là một sự biến đổi, một sự diễn đạt được tái mã hóa (re-coded articulation) những động cơ thúc đẩy và những điều kiện, và do đó, cái bề mặt là cái phải được dịch ra (translated) hơn là chỉ đọc nó đơn thuần. Từ sự trỗi dậy của ngành ký hiệu học đầy tiềm năng đến việc lý thuyết hóa lịch sử khoa học, cũng như bước đột phá mang tính cách mạng của ngành nhân chủng học hay việc ra đời của liệu pháp tâm lý gia đình (family therapy), chủ nghĩa cấu trúc đã trở thành một uy lực đứng ở trung tâm, có sức lan tỏa rộng khắp trong thế kỷ. Ý niệm về sự giải mã cái chiều sâu ra khỏi những biểu hiện của bề mặt, cái dường như thường xuyên che đậy hay là sự cải hóa cái nó-vốn-là, đã trở thành ý niệm trung tâm của lý thuyết văn chương.

Hậu cấu trúc luận đã tiếp tục khai triển ý niệm về cái bề mặt như là sự biến đổi, cải hóa của những uy lực ẩn giấu, nhưng lại bác bỏ cảm quan của chủ nghĩa cấu trúc về những quy luật phi thời gian chi phối những sự biến đổi, cải hóa và nhắm đến một thứ hiện thực nào đó ổn định nằm bên dưới và thống trị cái biến thiên liên tục – theo nhãn quan của hậu cấu trúc luận thì đấy là một thứ quan điểm bản chất luận, muốn bao gộp tất cả. Hậu cấu trúc luận đi xa hơn rất nhiều trong cái nhìn hiện thực như là những sự vỡ vụn, đa tạp, manh mún và mang tính đặc thù văn hóa so với quan điểm của cấu trúc luận. Từ đây nảy sinh ra một số hệ quả, trước hết là sự chú ý lớn hơn mà hậu cấu trúc luận dành cho những lịch sử đặc thù, những chi tiết, và những sự văn cảnh hóa cục bộ của những ví dụ cụ thể; thứ hai, nó nhấn mạnh nhiều hơn đến thân thể – đấy chính là cái thực sự chèn con người vào trong cấu trúc của thời gian và lịch sử; ba là sự chú ý lớn hơn vào những đặc thù của văn hóa, đến những khu vực của diễn ngôn và thực hành văn hóa; cuối cùng là sự chú trọng lớn hơn đối với vai trò của ngôn ngữ và văn bản trong việc kiến tao hiện thực và bản sắc. Lý thuyết văn chương là một sự thực hành hậu cấu trúc.

(Còn tiếp)

Hải Ngọc dịch

Nguồn: : http://www.brocku.ca/english/courses/2P70/contemporary_literary_theory.php

Các bài viết khác trong chuyên đề:

Trần Đình Sử – Lý luận văn học – khủng hoảng và lối thoát

Lã Nguyên – Số phận lịch sử của nền lý luận văn học chính thống Xô viết

John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (Phần 1)


[1] Antonio Gramsci (1891-1937): triết gia, nhà chính trị học, từng là một trong những nhân vật lãnh đạo của Đảng cộng sản Italia.

[2] Piere Macherey (1938): nhà phê bình văn học theo khuynh hướng Marxist, người Pháp.

About lythuyetvanhoc

Bộ môn Lý luận văn học, khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm, Hà Nội
This entry was posted in dịch thuật, lý thuyết văn học, trần ngọc hiếu (hải ngọc) and tagged , , . Bookmark the permalink.

Có 3 phản hồi tại John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (Phần 2)

  1. Pingback: John Lye – Lý thuyết văn chương đương đại (Phần cuối) | Lythuyetvanhoc's Blog

  2. Pingback: Phạm Quốc Lộc – Dịch và đại tự sự | Lythuyetvanhoc's Blog

  3. Pingback: Trần Đình Sử – Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc | Lythuyetvanhoc's Blog

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s