Lã Nguyên – Vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử (Phần 1)

 

ROBERT RAUSCHENBERG (1925-2008) - Monogram (1955-9)- Tác phẩm theo khuynh hướng Pop Art

1. Dẫn nhập.

Một trong những chức năng quan trọng bậc nhất của lí luận văn học là nghiên cứu, khám phá lô gíc nội tại của tiến trình văn học. Với ý nhĩa như thế, lí luận văn học chính là lịch sử văn học được trừu tượng hoá và bàn về lí luận văn học thật ra là bàn về sáng tác văn chương trong xu hướng vận động lịch sử của nó. Cái khó của người làm lí luận bây giờ là ở chỗ, hơn nửa thế kỉ qua, văn học đã trải qua nhiều thay đổi vô cùng lớn lao. Sự biến đổi của văn học khiến nhiều nhà chuyên môn lắm lúc không còn đủ tự tin để cắt nghĩa một cuốn tiểu thuyết hoặc một bài thơ đang làm xôn xao dư luận. Đúng là văn học ngày càng trở nên xa lạ với các quan niệm lí thuyết mà ta vẫn quen xem như những chân lí bất di bất dịch. Cho nên, nếu chưa phân tích thấu đáo bối cảnh văn học hiện nay mà vẫn cứ bạo gan bàn về con đường phát triển của lí luận văn học hoặc về những vấn đề trọng đại ví như bản chất hay chức năng của văn chương, tôi dám chắc, chúng ta chỉ có thể vòng vo với những câu chữ sáo rỗng hoặc nói những chuyện giời ơi đất hỡi ở tận đẩu đầu đâu.

Có thể hình dung bối cảnh văn học của một thời đại qua hai bình diện sau đây. Thứ nhất: vị thế của văn học như một tiếng nói quyền lực trên sân chơi văn hoá. Thứ hai: văn học như một thực tế diễn ngôn. Tiểu luận này chỉ tập trung vào bình diện thứ nhất: vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá. Thiết nghĩ, dẫu không đi sâu nghiên cứu, nhưng nếu nhìn thẳng vào sự thật, các nhà văn, nhà thơ, các nhà lí luận, phê bình đều có thể nhận ra trên sân chơi văn hoá, văn học đang bị đẩy ra khu vực ngoại vi. Dĩ nhiên, hiện trạng ấy là kết quả của cả một quá trình dài lâu, rất khó chấp nhận với những ai chỉ quen xem xét văn chương như một bản thể trừu tượng, hoặc chỉ quen khái quát lí thuyết trên nền tảng của văn học trung đại hay văn học hiện đại của một số dân tộc ở các nước phương Đông. Bởi vậy, tôi sẽ trình bày về vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá dọc theo trục lịch sử, từ cổ – trung đại, qua hiện đại đến thời đương đại. Vì văn học là nghệ thuật ngôn từ, nên vị thế của văn học sẽ được xem xét trên các tương quan cơ bản sau đây: 1. Lời nghệ thuậttoàn bộ hoạt động tinh thần của xã hội; 2. Lời nghệ thuậtlời xã hội (như phê bình văn học, tiếng nói chính trị, tư tưởng hệ); 3. Lời nghệ thuậtcác tiếng nói ngoài lời (các phương tiện nghe – nhìn và sức mạnh của văn hoá tiêu dùng trong tương quan đối lập “lời”/“vật”).

2. Lời nghệ thuật và tiếng nói quyên uy trên sân chơi văn hoá. Trên sân chơi văn hoá thời cổ – trung đại, văn học luôn chiếm giữ vị trí trung tâm. Nó là tiếng nói đầy quyền uy. Quyền uy của  văn học có nguồn cội từ sức mạnh của lời nói nghệ thuật. Sở dĩ văn học được xem là nghệ thuật vì nó có đối tượng nhận thức riêng, có nội dung và phương thức biểu đạt nội dung mang tính đặc thù.

Năm 1841, trong bài viết nổi tiếng Tư tưởng nghệ thuật, V.G.Belinski (1811 – 1848) đã đưa ra định nghĩa: “Nghệ thuật là sự chiêm ngưỡng chân lí một cách trực tiếp, hoặc là tư duy bằng các hình tượng”. Ông cho rằng, chỉ cần “đem cái định nghĩa ấy mà mở rộng ra, ta sẽ có toàn bộ lí luận nghệ thuật: từ lí luận về bản chất của nghệ thuật, về sự phân chia nghệ thuật thành các thể loại cho đến lí luận về hoàn cảnh tồn tại và bản chất của từng thể loại”[i]. Trong lịch sử khoa học, không phải ai cũng tán thành quan điểm ấy[ii]. Nhưng theo cách hiểu truyền thống, hầu như tất cả chúng ta đều đinh ninh, rằng tính hình tượng là đặc trưng quan trọng nhất của nghệ thuật.

Trong nghệ thuật, không tồn tại một thứ hình tượng nói chung. Hình tượng bao giờ cũng là hình tượng của một loại chất liệu cụ thể. Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng. Nhờ được tổ chức một cách nghệ thuật, hình tượng ngôn từ trong sáng tác văn học trở thành chỉnh thể thống nhất của hai mặt đối lập tưởng như loại trừ nhau. Một mặt, đó là loại hình tượng rất giàu giá trị tạo hình. Mặt khác, từ trong bản chất sâu xa, thế giới nghệ thuật được mở ra từ hình tượng ngôn từ chỉ là thế giới của lời, của ý niệm. Loại hình tượng này chỉ biểu đạt một thực tại gián tiếp, thực tại tiềm năng, một thực tại tinh thần đầy tính giả tưởng mà muốn chiếm lĩnh, người đọc hoặc người nghe phải có trí tưởng tượng mãnh liệt và khả năng liên tưởng phong phú.

Bản chất hai mặt được tạo thành bởi sự thống nhất giữa các đối cực tưởng như

loại trừ nhau (tạo hình – ý niệm) đã biến hình tượng ngôn từ thành hình thức biểu đạtkiểu tư duy tổng hợp độc đáo mà ta chỉ có thể tìm thấy trong văn học nghệ thuật. Tư duy văn học vừa là kiểu tư duy của vô thức tập thể (giống như trong huyền thoại, tôn giáo, văn hoá dân gian, hoặc âm nhạc và nghệ thuật sân khấu trong hoạt động chuyên nghiệp), của tình cảm mãnh liệt và những xúc động trực tiếp trước hiện thực (giống như trong các hoạt động văn nghệ – thẩm mĩ), lại vừa là kiểu tư duy đầy thông tuệ của lí trí con người (giống như trong các công trình nghiên cứu khoa học). Chính kiểu tư duy trác tuyệt, độc đáo ấy đã mở đường cho văn học tiến vào chiếm giữ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá – xã hội.

Vị trí trung tâm của văn học trong cấu trúc của các nền văn hoá thể hiện ngay ở mối quan hệ giữa nó với tiếng nói của các nghệ thuật khác. Văn học là nhịp cầu nối các loại hình nghệ thuật không gian với nghệ thuật thời gian, nghệ thuật tạo hình với nghệ thuật biểu hiện (“Thi trung hữu nhạc”, “Thi trung hữu hoạ”). Truyện có thể đọc, cũng có thể kể. Thơ có thể đọc mà cũng có thể ngâm. Có kịch bản để diễn, nhưng cũng có kịch bản để đọc. Văn học là nơi gặp gỡ giữa nghệ thuật thị giác và nghệ thuật thính giác, giữa nghệ thuật viết – đọc trầm ngâm trong nội thất, với nghệ thuật công diễn náo nhiệt ngoài quảng trường. Với ý nghĩa như thế, V.G.Belinski gọi “thi ca” (tức văn học) là “vòng nguyệt quế lấp lánh trên vầng trán nghệ thuật”.

Vị trí của văn học trong đời sống văn hoá – xã hội còn thể hiện qua mối quan hệ giữa nó với các tiếng nói của lĩnh vực hoạt động nhận thức chân lí, khám phá bản chất, quy luật của thế giới khách quan. Có cơ sở để gọi văn học là “cuốn sách giáo khoa về đời sống”. Suốt mấy nghìn năm tồn tại, có nhiều trào lưu văn học gần như hoá thành một kiểu hoạt động trí óc, hoặc một dạng đặc thù của nghiên cứu lí thuyết. Các trào lưu văn học ấy khi thì xích lại gần tôn giáo, triết học, lúc lại xích về phía lịch sử học, ngữ văn học, xã hội học, thậm chí có những khuynh hướng sáng tác tiến hẳn về phía khoa học tự nhiên. Ngay cả khi không không xích lại với các lĩnh vực khoa học một cách có ý thức, văn học nghệ thuật vẫn là hoạt động nhận thức thế giới, khám phá chân lí. Chỉ cần đọc lại các ý kiến của F. Engels về giá trị nhận thức của bộ Tấn trò đời của Balzac, ta sẽ hiểu văn học gần gũi với khoa học biết chừng nào.

Trong sáng tác văn học, ngôn từ không chỉ là chất liệu nghệ thuật. Mỗi từ, mỗi câu được cất lên trong tác phẩm văn học đều là một “phát ngôn”, một “ý kiến” luôn luôn lấp lánh ý thức của chủ thể lời nói. Cho nên, văn học có khả năng to lớn trong việc chuyển tải, truyền đạt tư tưởng và các hệ thống quan niệm mang tính lí thuyết (ví như quan niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, quan điểm chính trị, xã hội…). Văn học không chỉ miêu tả bức tranh về thế giới, mà còn phân tích, giải thích, đánh giá hiện thực đời sống được nó miêu tả. Bởi thế, nghệ thuật ngôn từ luôn đầy ắp nội dung tư tưởng hệ. Đặt bên cạnh tôn giáo, triết học, đạo đức học, chính trị học, pháp quyền, luật học…, văn học là diễn ngôn tư tưởng hệ trong hình thức nghệ thuật. Nhưng đặt bên cạnh kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, hội hoạ…, văn học là diễn ngôn nghệ thuật mang nội dung tư tưởng hệ. Nhìn từ phía nào – đem nối kết nghệ thuật và tư tưởng hệ để khẳng định sự thống nhất, hoặc đem tư tưởng hệ đối lập với nghệ thuật nhằm làm nổi bật sự khác nhau giữa chúng, người ta đều có thể  nhận ra chỗ đứng đặc thù của sáng tác văn học. Văn học vừa là nhân tố liên kết, hợp nhất, vừa là nhân tố phân hoá, chia tách các hiện tượng tư tưởng hệ với các hiện tượng thẩm mĩ – nghệ thuật. Đã có hàng nghìn năm, văn học chiếm giữ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá – xã hội. Nhờ bao giờ cũng nằm ở nơi giáp ranh giữa nghệ thuật và tư tưởng hệ, nên văn học mới có được vị thế như vậy.

Văn học sở dĩ luôn chiếm giữ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá – xã hội còn bởi vì nó là một dạng hoạt động tác động. Nó tác động tích cực tới thế giới quan của người đọc, góp phần hình thành ở họ những tín niệm đạo đức, thị hiếu thẩm mĩ, quan điểm tôn giáo, chính trị và cả những tri thức triết học, khoa học…Nó thường xuyên đấu tranh chống lại cái cũ, mở đường cho cái mới nẩy nở, phát triển. Có nhiều thời điểm, văn học trở thành diễn đàn tự do, trước hết là của tự do tư tưởng, của lẽ phải và sự công bằng, của khát vọng dân chủ và lí tưởng nhân bản bất diệt của con người. Văn học nghệ thuật tác động tới tư tưởng và tình cảm người đọc không phải bằng logic lí trí, bằng ngôn ngữ chính luận, mà chủ yếu bằng thi pháp nghệ thuậtngôn ngữ hình tượng. Ngôn ngữ hình tượng và thi pháp nghệ thuật cho phép người cầm bút tìm tới lối nói độc đáo chỉ có thể có trong sáng tác văn học. Đó là lối nói bóng gió, nói ngầm, nói bằng điển tích, điển cố, bằng những hình ảnh tượng trưng ước lệ….Trong sáng tác văn học, lớp nghĩa “hiển ngôn” thường không quan trọng bằng nghĩa “hàm ngôn”, văn bản nổi trên bề mặt không quan trọng bằng văn bản ngầm. Lớp nghĩa hàm ngôn ở văn bản ngầm giúp người sáng tác vượt qua mọi hàng rào kiểm duyệt của quốc gia, của các đảng phái chính trị, các tổ chức tôn giáo, các loại giáo lí, huý kị, của các thành kiến, định kiến, và cả những thứ hủ tục, mê tín, dị đoan… để nói với người đọc những điều không thể nói bên ngoài sáng tác văn học. Từ góc độ này, có thể thấy, văn học là hàn thử biểu ghi nhận chính xác cả truyền thống dân tộc, lẫn các chuẩn mực lịch sử mang tính cụ thể của một nền văn hoá ở từng giai đoạn hình thành và phát triển của nó. 

Cũng có nhiều nhà văn làm thơ, viết truyện bằng tiếng nước ngoài. Nhưng nền văn học của bất kì một dân tộc nào cũng sáng tạo bằng tiếng nói của dân tộc mình. “Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy”. Nhà văn là con đẻ của dân tộc. Cách cảm, lối nghĩ, kiểu nhìn thế giới bằng hình tượng và các hình tượng thế giới của một dân tộc bao giờ cũng để lại dấu ấn trong tiếng nói của dân tộc ấy, rồi qua tiếng nói, thấm sâu vào máu huyết của nhà văn, nhà thơ. Các hình tượng thế giới của dân tộc lại dạy cho nhà văn cách lí giải vũ trụ và thực tại xã hội, cách phân tích các bước đi của tiến trình lịch sử, đời sống tâm lí của con người, giúp họ tìm hiểu sự vận động của các ý niệm về tôn giáo – huyền thoại, về tư tưởng – chính trị cùng sự phát triển của phong tục, tập quán và văn hoá trong đời sống thường nhật. Có thể nói, việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc làm công cụ sáng tạo đã biến văn học thành tấm gương phản chiếu trung thành trình độ tự nhận thức của nhân dân, cách thức ứng xử văn hoá và tâm tính của dân tộc[iii].

Tóm lại, sức mạnh của lời nói nghệ thuật đã làm nên sức mạnh của văn học. Văn học là một loại hình diễn ngôn đặc thù.  Lấy hình tượng lời nói làm phương thức tư duy và công cụ biểu đạt, ngay từ thời xa xưa, nghệ thuật ngôn từ đã chiếm giữ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá – xã hội. Từ vị trí trung tâm của đời sống văn hoá – xã hội, văn chương luôn luôn cất lên tiếng nói đầy quyền uy. Lời văn viết ra hoá thành “hịch”, “cáo”, “chiếu”, “chế”, “lệnh”… Văn nhân có người được gọi là “thánh nhân”. Tác phẩm văn chương có thể được xem là kinh sách, điển phạm. Thi từ có sức mạnh “thị chúng” (“Cáo tật thị chúng”). Văn dùng để “tải đạo”, “quán đạo”, “minh đạo”… Ở nhiều thời điểm lịch sử, “trường quyền uy” của tiếng nói văn học gần như lấn lướt, làm lu mờ quyền uy của mọi lời nói khác, kể cả tôn giáo, khoa học, chính trị, pháp quyền… Cứ nhớ lại thái độ của các tầng lớp nhân dân đối với tờ báo Văn nghệ và không khí của văn học Việt Nam thời “đổi mới” (1986 – 1991), ta sẽ hiểu ngay, nghệ thuật ngôn từ có sức nặng như thế nào trong đời sống văn hoá – xã hội. Ở những thời điểm như thế, “văn học quyển” là linh hồn của “văn hoá quyển”

3. Lời nghệ thuật và lời xã hội trong cuộc đối thoại đảo ngược tương quan quyền lực. Nhưng khi nhân loại chuyển qua kỉ nguyên hiện đại, nhìn chung, văn học không thể giữ được vị trí trung tâm trên sân chơi văn hoá và “trường quyền lực” của nó không ngừng bị thách thức, thu hẹp. Ở châu Âu, nền văn hoá hiện đại được mở ra bằng hội hoạ Phục Hưng, chứ không phải là văn học. Đến cuối thế kỉ XIX, tinh thần duy lí cực đoan như là mặt trái của chủ nghĩa hiện đại phương Tây lại lộ ra ở kiến trúc để rồi, từ những năm 50 của thế kỉ trước, chủ nghĩa hậu hiện đại lại xuất hiện ở kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, sau đó mới thâm nhập vào văn học và âm nhạc. Cho nên, chỉ cần nhìn vào chương trình đào tạo trong nhà trường, từ các cấp phổ thông cho tới đại học, ta có thể nhận ra ngay, ở nhiều nước Âu – Mĩ, văn học có vị trí rất khiêm tốn trên sân chơi văn hoá và tiếng nói của nó hoàn toàn bình đẳng với các tiếng nói xã hội khác.

Chẳng riêng gì kiến trúc, hội hoạ, âm nhạc mới thách thức vị thế của nghệ thuật ngôn từ. Trên sân chơi văn hoá hiện đại, khi các hình thái ý thức đã tách khỏi cây trí tuệ chung của tư duy nguyên hợp để thiết lập cho mình một vương quốc đặc thù, thì quyền uy của lời nói nghệ thuật thường xuyên bị thách thức bởi chính những lời nói khác – những lời nói nhắm tới các định hướng xã hội. Phê bình văn học là tiếng nói xã hội đầu tiên tấn công vào khu vực quyền uy của văn học nghệ thuật. Cuộc tấn công này diễn ra trong hình thức đối thoại của hai loại diễn ngôn mà kết quả là dẫn tới sự đảo ngược tương quan quyền lực giữa lời nghệ thuậtlời xã hội trên sân chơi văn hoá.

Văn học trung đại về cơ bản là nền văn học chức năng. Văn học hiện đại thoát ra khỏi hoạt động chức năng để trở thành văn học nghệ thuật. Nền tảng sáng tạo của kiểu văn học trung đại là kinh nghiệm cộng đồng. Văn học trung đại là hệ thống thi pháp của cái điển mẫu, quy phạm. Nền tảng sáng tạo của kiểu văn học hiện đại là tư duy phân tích, giải thích và ý thức cá nhân. Mỗi tác phẩm văn học hiện đại là một sản phẩm sáng tạo của cá nhân, không thể trộn lẫn. Kiểu sáng tạo và phương thức tồn tại của văn học hiện đại đòi hỏi sự xuất hiện của phê bình văn học. Sự ra đời của kĩ nghệ in ấn, xuất bản và hoạt động báo chí tạo tiền đề cho sự phát triển rực rỡ của phê bình văn học, văn chính luận và các thể văn học trung gian.

Lúc đầu, phê bình có xu hướng thiêng hoá văn học. Người xưa đốt trầm mà thưởng văn, bình thơ. Mở đầu Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh cũng “Cung chiêu anh hồn Tản Đà”, “một lòng thành kính xin rước anh hồn tiên sinh về chứng giám”. Ông viết về Thơ mới, về các thi sĩ đương thời cũng trong tâm ngưỡng mộ nghi ngút khói hương. Ở thế kỉ XVIII, các nhà thơ và nhà văn Nga được xem là những vị “trần gian Á Thánh”, “sách của họ, giống như tạo tác của các thánh chăn chiên, mãi mãi không thể cũ, bao giờ cũng có ý nghĩa giáo huấn”[iv].  Vào những năm đầu thế kỉ XX, khi phân tích văn học cổ điển Nga, các vị chủ soái của Trường phái hình thức, như Iu.Tynhjanov, B.Eikhenbaum, V.Shklovski, thường xuyên sử dụng thuật ngữ “văn hoá văn học” (“литературная культура”)  và những  khái niệm gắn liền với thuật ngữ ấy, như “đời sống văn học” (“литературный быт”), “Sự thật văn học” (“литературный фак”), “tiến hoá văn học” (“литературная эволюция”). Về cơ bản, Trường phái hình thức Nga đã đồng nhất văn hoá với văn học, xem văn học chính là văn hoá.

 Nhưng đã có xu hướng thiêng hoá, thì tất sẽ xuất hiện xu hướng giải thiêng. Cho nên, cuộc tranh luận giữa hai quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh” diễn ra trên văn đàn công khai nước ta hồi 1935 -1939 chắc chắn không phải là sự kiện ngẫu nhiên. Thực tiễn lịch sử chứng tỏ, xu hướng giải thiêng văn học bằng hoạt động phê bình càng về sau càng trở nên mạnh mẽ, thậm chí, tiếng nói phê bình có tham vọng thế chỗ cho tiếng nói văn học. V. Belinski là đại diện đầu tiên của xu hướng này trong văn học Nga thế kỉ XIX. Trong suốt 20 năm hoạt động, Belinski luôn luôn nói về “uy tín”, về “sức mạnh” và ảnh hưởng của nền phê bình Nga đối với đời sống tinh thần của xã hội. Ông nói: “Bây giờ, chuyện người ta sẽ nói thế nào về tác phẩm vĩ đại cũng có tầm quan trọng chẳng kém gì so với tác phẩm vĩ đại ấy”[v]. Đúng là từ nay, công chúng Nga không chỉ ngưỡng mộ những A.Puskin, N. Gogol, I.Turgheniev, L.Tolstoi, F.Dostoievski, A.Chekhov, mà còn chăm chú lắng nghe B.Belinski, K.Aksakov (1817-1860), A.Khomjakov (1804-1860), A. Drujynhin (1824-1864), V.Odoevski (1803-1869), N.Secnysevski (1828-1889), N.Dobraliubov (1836-1861), Ap.Grigoriev (1822-1864), N.Strakhov (1828-1896), D.Pisarev(1840-1868), N.Mikhailovski (1842-1904), V.Stasov (1824-1906), A.Serov (1820-1871)… Vì sao tiếng nói của các nhà phê bình có sức mạnh thu hút công chúng như thế ? Vì sao “chuyện nói về tác phẩm vĩ đại cũng có tầm quan trọng chẳng kém gì so với tác phẩm vĩ đại ấy”? Trong Diễn văn phê bìnhBài  thứ nhất (1842), V. Belinski giải thích: “Không phải nghệ thuật đẻ ra phê bình và cũng chẳng phải phê bình đẻ ra nghệ thuật, mà cả nghệ thuật lẫn phê bình đều thoát thai từ một nguồn cội chung, ấy là tinh thần thời đại. Nghệ thuật và phê bình đều là sự nhận thức thời đại; nhưng phê bình là sự nhận thức triết học, còn nghệ thuật là sự nhận thức trực tiếp. Nghệ thuật và phê bình đều có chung một nội dung, sự khác nhau của chúng chỉ là ở hình thức”[vi]. Trước kia, A. Puskin (1799-1837) xem “phê bình là khoa học khám phá những vẻ đẹp của tác phẩm”[vii]. Nay theo V.Belinski, văn học chỉ là cái cớ để qua đó phê bình “nhận thức thời đại”. Nhà phê bình là nhà tư tưởng, vì phê bình là “nhận thức triết học”, loại nhận thức có sức khái quát, thể hiện thái độ khách quan trước hiện thực đời sống. Nghệ thuật cũng “nhận thức thời đại”, nhưng đó là “tư duy bằng hình tượng”, là “sự nhận thức trực tiếp” đầy cảm tính, chủ quan của người nghệ sĩ. Với ý nghĩa như thế, từ thời V.Belinski, hầu như tất cả các nhà phê bình Nga đều đặt phê bình “cao hơn” văn học, “nhà tư tưởng” cao hơn “nghệ sĩ”. Thế là, lấy nhận thức thời đại và cải tạo thực tại làm mục đích, phê bình Nga đã đảo ngược tương quan quyền lực trên sân chơi văn hoá. Trong cuộc đối thoại giữa văn học và phê bình về các vấn đề xã hội, phê bình giành cho mình vai trò cầm trịch. Nó nhân danh xã hội tư tưởng hệ để nhận xét, đánh giá, nói lời cuối cùng về tác phẩm văn học. Nó đánh giá tác phẩm văn học trong vai trò của nhân tố tổ chức, định hướng tiến trình văn học và văn hoá – lịch sử. Không phải ngẫu nhiên, hầu hết những nhà phê bình có uy tín xã hội ở nước Nga đều là những yếu nhân của các phong trào cách mạng – dân chủ, hoặc dân tuý, ví như A.I.Ghersen, V.G.Belinski, N.Secnysevski, N.Dobraliubov, D.Pisarev (dân chủ – cách mạng), N.Mikhailovski, P.L.Lavrov  (dân tuý – cách mạng).

Từ những năm 30 của thế kỉ trước, ở Liên Xô, vai trò cầm trịch của phê bình càng được khẳng định triệt để một cách có ý thức. Nghị quyết Về phê bình văn học – nghệ thuật của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (ngày 21/1/1972) ghi rõ: “Phê bình có trách nhiệm phân tích sâu sắc các hiện tượng, khuynh hướng và những quy luật của tiến trình nghệ thuật hiện đại, bằng mọi cách củng cố vững chắc nguyên tắc tính đảng và tính nhân dân của Lenin, đấu tranh nhằm nâng cao trình độ tư tưởng – thẩm mĩ của nghệ thuật Xô Viết và chống lại hệ tư tưởng tư sản. Phê bình văn học – nghệ thuật có sứ mệnh mở rộng tầm tư tưởng cho nghệ sỹ và giúp họ nâng cao tay nghề”[viii]. Là công cụ “đấu tranh và “tuyên truyền” phê bình trở thành tiếng nói đầy quyền uy của chính trị và tư tưởng hệ, nó thay thế nghệ thuật, chiếm giữ vị trí trung tâm của sân chơi văn hoá. Ở Việt Nam, tương quan quyền lực giữa bộ ba “văn học – phê bình – tư tưởng hệ” cũng có đặc điểm và diễn biến tương tự như ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa trước kia. Đặc điểm ấy được diễn tả rất chính xác qua cặp ẩn dụ về “con ngựa” và “chiếc roi” mà ai cũng biết: “con ngựa văn học” “cúi đầu ủ rủ đi bước một” cần một “cái roi phê bình” quất cho nó “lồng lên”.

Trên sân chơi văn hoá ở các nước Âu – Mĩ cũng diễn ra sự đảo ngược trong tương quan quyền lực giữa văn học và phê bình. Từ đầu thế kỉ XX đổ về trước, tiến trình văn hoá – lịch sử ở các nước Âu – Mĩ được ghi dấu chủ yếu bằng sự xuất hiện tuần tự của các trào lưu, trường phái nghệ thuật: Phục hưng – barroco – chủ nghĩa cổ điển – chủ nghĩa tình cảm – chủ nghĩa lãng mạn – chủ nghĩa tượng trưng – chủ nghĩa hiện thực – chủ nghĩa tự nhiên… Nhưng từ những năm 20 của thế kỉ XX đổ về sau, lịch sử tiếp nhận văn học ngày càng có xu hướng lấn lướt lịch sử sáng tác văn học. Cho nên, nổi trên bề mặt của tiến trình văn hoá – lịch sử là sự xuất hiện đông đúc, náo nhiệt của rất nhiều trào lưu, trường phái nghiên cứu văn học: Trường phái hình thức – Phê bình mới – Phân tâm học – Mĩ học phân tích – Hiện tượng luận – Kí hiệu học – Cấu trúc luận – Thông diễn luận – Mĩ học tiếp nhận – Trần thuật học, Xã hội học văn học – Giải cấu trúc thực hành…Dĩ nhiên, vẫn có khác biệt lớn giữa phương Đông và phương Tây. Phê bình phương Đông thường biến tác phẩm nghệ thuật thành đối tượng thẩm bình và định giá. Sự đảo ngược tương quan quyền lực ở đây phản ánh tương quan quyền lực kiểu mới giữa lời nghệ thuậtlời tư tưởng hệ. Phê bình phương Tây thường chỉ xem tác phẩm là cơ sở “khảo cổ tri thức”. Cho nên, ở phương Tây, sự đảo ngược quyền lực giữa văn học và phê bình chủ yếu phản ánh tương quan kiểu mới giữa khoa học và  văn học

Cũng cần phải nói thêm. tuy đầy quyền uy, nhưng sức sống của lời nói xã hội, nhất là lời tư tưởng hệ tỏ ra không dẻo dai, mãnh liệt bằng sức sống của lời nghệ thuật. Cho nên suốt hai thế kỉ XIX và XX, văn học Âu – Mĩ vẫn phát triển rực rỡ. Chẳng những thế, ở một số vùng miền, quốc gia, ví như Việt Nam, Trung Quốc, nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa trước kia, nhất là ở Nga, người ta còn chứng kiến sự hồi sinh của xu hướng văn hoá hoá văn học. Không phải ngẫu nhiên mà nền văn hoá Nga đã trở thành nơi khai sinh của khái niệm “văn học trung tâm luận”[ix]. Khái niệm này được sử dụng để chỉ một hiện tượng đặc thù của nền văn hoá Nga, theo đó, trong suốt trường kì lịch sử dân tộc, từ thời xa xưa, cho đến những năm cuối cùng của thế kỉ XX, văn học Nga là diễn đàn tập hợp trí thức và là trung tâm của đời sống tinh thần toàn xã hội[x]. Trong một công trình nghiên cứu mới công bố, I. Kondakov cho rằng, hiện tượng này là con đẻ của những nền văn hoá có xu hướng dị ứng với cái hiện đại, thậm chí, khước từ hiện đại hoá[xi].  Ở những nền văn hoá như thế, tư duy nguyên hợp được bảo tồn rất lâu dài. Nó hoá thành lớp vỏ bọc vững chắc khiến các bộ phận cấu thành của văn hoá không thể tách khỏi cây trí tuệ chung để thiết lập cho mình một vương quốc đặc thù[xii]. Bởi vậy, kiểu tư duy hình tượng mang tính tổng hợp luôn luôn giữ vị thế ưu thắng trong mọi lĩnh vực hoạt động tinh thần. Do ý thức về sự gắn bó mật thiết giữa văn học và văn hoá dân tộc đã thấm sâu vào tư duy, hoá thành một thứ trực giác mang tính bản năng, nên cơ cấu quyền lực trên sân chơi của những nền văn hoá ấy bao giờ cũng xem văn học là vũ khí chính trị lợi hại, là công cụ sắc bén có khả năng tác động tổng hợp tới tình cảm và tư tưởng của con người. Cách lí giải của I.Kondakov giúp ta hiểu ra, việc đề cao vai trò của văn học trong đường lối văn nghệ của V.Lenin, của Stalin, của các lãnh tụ Đảng Cộng sản Liên Xô – như chúng ta đã biết và từng chịu ảnh hưởng sâu sắc – thực ra chỉ là một hiện tượng thuần tuý mang tính dân tộc, thể hiện đặc điểm văn hoá của một số quốc gia, vùng miền.

Theo I. Kondakov, B. Grois và một số nhà nghiên cứu khác, hiện tượng “văn học trung tâm luận” và xu hướng “văn hoá hoá văn học” còn có nguồn cội từ đời sống của xã hội Xô Viết. B. Grois cho rằng, “lô gíc lời nói” là nền tảng kiến tạo của xã hội Xô Viết, đời sống nơi đây được biến thành một “cuộc lên đồng tập thể bằng lời nói”[xiii]:  Cho nên, từ lãnh đạo đến quần chúng, từ trí thức đến công – nông – binh, từ nghệ sĩ đến các nhà khoa học, ai ai cũng viết văn, làm thơ, nên nghe đâu cũng thấy “Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát”, nhìn đâu cũng gặp cảnh “Đất nước hoá thành văn”.

 Cũng còn có một nguyên nhân khác dẫn tới xu hướng “văn hoá hoá văn học”. Nói tới nước Nga, người ta thường nghĩ tới một dân tộc vĩ đại nhưng không mấy khi được biết tới vị ngọt của tự do và dân chủ. Trong Thư gửi Gogol (1847), V.G.Belinski viết: “Chỉ độc trong văn học, dù bị kiểm duyệt vô cùng hà khắc, là còn thấy có cuộc sống, thấy có sự vận động tiến về phía trước <…> Công chúng hoàn toàn có lí: họ xem các nhà văn Nga là những lãnh tụ, là người bảo vệ, là những vị cứu tinh duy nhất của họ trước nền quân chủ chuyên chế Nga…”[xiv]. A.I.Ghersen (1812 – 1870) cũng nói: “Ở một dân tộc mà tự do xã hội bị tước đoạt, văn học sẽ là diễn đàn duy nhất để từ đó dân tộc ấy buộc người ta phải lắng nghe tiếng gào thét của sự phẫn nộ và của lương tri”[xv]. Dĩ nhiên, khi “tự do xã hội bị tước đoạt”, muốn cất lên tiếng “gào thét của lương tri và sự phẫn nộ”, văn học phải tìm được hình thức biểu đạt phù hợp. Trong một công trình về kí hiệu học văn hoá viết ở giai đoạn cuối đời, Iu. Lotman đã trao cho độc giả chìa khoá giải mã để đọc văn học Nga. Ông viết: “Vai trò xã hội của văn học Nga được đặt trên hai cột móng. Cột móng thứ nhất thuộc bản thân văn học, nó đòi hỏi nhà văn phải có thiên tài nghệ thuật <…> Cột móng thứ hai chẳng cần phải xem là cái gì đó có nghĩa lí, không xứng được gọi là giá trị nghệ thuật, nhưng đặt vào giới hạn của văn hoá Nga, nó được đánh giá rất cao. Đó là cái mà Saltykov-Sedrin gọi là “ngôn ngữ nô lệ” – là khả năng vượt qua mọi rào cản để mang đến cho người đọc những tư tưởng và những chủ đề bị kiểm duyệt cấm đoán. Bên ngoài giới hạn của những cấm kị kiểm duyệt, giá trị của những lời bóng gió ám chỉ ấy hoàn toàn biến mất”[xvi]. Hoá ra hai cột móng của văn học Nga vẫn là hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ định hướng văn hoá, và ngôn ngữ định hướng xã hội. Hai cột móng ấy xác định mối quan hệ mật thiết giữa văn học và ngữ cảnh mà văn học hoạt động như một văn bản nghệ thuật, hoặc một văn bản xã hội. Qua diễn ngôn văn học, ngữ cảnh văn hoá xã hội có thể biến thành một loại “văn bản” có giá trị tự nó, còn “sự phán xét đời sống” mà người sáng tác mượn văn học để phát ngôn thì lại có thể hiện ra như một ngữ cảnh văn học hoặc lịch sử văn học. Thế là ở đây, giữa văn bản và ngữ cảnh có một sự nghịch đảo, hoán đổi hết sức đặc biệt. Sự hô ứng giữa hai loại ngôn ngữ “định hướng văn hoá” và “định hướng xã hội” sẽ tạo ra một phạm vi chủ đề có thể mở rộng tối đa khả năng giao tiếp và giá trị nhận thức của văn học Nga, khiến cho nó bao giờ cũng được đặt vào vị trí trung tâm của đời sống văn hoá và xã hội. Chìa khoá đọc văn học Nga mà Iu.Lotman trao cho độc giả, xem ra có thể sử dụng để đọc nhiều nền văn học khác, trong đó, chắc chắn có cả văn học Việt Nam.

(Còn tiếp)

[i] V.G. Belinski.- Bộ Tuyển 3 tập, t.2, Nxb Văn học nghệ thuật quốc gia, M., 1948, tr. 67.

[ii] Chẳng hạn, Trường phái Hình thức Nga xem đặc trưng của nghệ thuật nằm ở thủ  pháp “lạ  hoá”, ở “thao tác” tổ chức chất liệu ngôn từ (Xem: V.Shklovski.- Nghệ thuật là thủ pháp//Sách: V.Shklovski.- Về lí thuyết văn xuôi, M., 1983, tr.9-25).

[iii] Về vấn đề này, xin xem: G.Gatsev.- Ngôn ngữ với tư cách là giọng nói mang bản chất dân tộc// Trong sách: G.Gatsev.- Kosmo – Psycho – Logos: Các hình tượng mang tính dân tộc về thế giới, M., 1995.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                           

[iv] Xem: Pansenko A.M.- Cải cách nhà thờ và văn hoá thời đại Piоt Đại Đế // “Thế kỉ XVIII”, Quyển 17, XPb,: “Nauka”, 1991, tr.11, 12-13.

[v] V.G. Belinski.- Bộ Tuyển 3 tập, t.2, Nxb Văn học nghệ thuật quốc gia, M., 1948, tr. 348.

[vi] V.G. Belinski.- Bộ Tuyển 3 tập, t.2, Nxb Văn học nghệ thuật quốc gia, M., 1948, tr. 348.

[vii] Puskin A. Toàn tập, T.6, M.,1958, tr. 320.

[viii] Về phê bình văn học – nghệ thuật (Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ngày 21 tháng Giêng năm 1972)// Trong: Những văn đề công tác tư tưởng của KPSS. Tuyển tập tài liệu (1965-1973, M., 1973, tr. 527.

[ix] “Văn học trung tâm luận”: Tiếng Pháp:“Littérrarocentrisme”, tiếng Nga: Литературоцентризм”.

[x] Về biểu hiện của đặc điểm này trong văn học trung đại Nga, xin xem: Likhasev D. X. – Văn học cổ Nga trong quan hệ với các nghệ thuật tạo hình// Sách: Likhasev D.X.- Thi pháp văn học cổ Nga (In lần thứ 2), L., 1971, tr. 24 – 94; hoặc: Likhasev D.X.- Nhập môn chuyên đề đọc các kiệt tác văn học cổ Nga, M.:, 2004, tr. 16.

[xi] Xem: Kondakov I. – Phía bên kia của lời (Sự khủng hoảng của văn học trung tâm luận ở Nga trong thế kỉ XX – XXI) // “Những vấn đề văn học”, số 5/2008. Có thể nhận ra hiện tượng “dị ứng với cái hiện đại” và xu hướng “khước từ hiện đại hoá” trong những khẩu hiệu rất phổ biến của một thời, ví như khẩu hiệu: “Chạy tắt, đón đầu”, “Tiến thẳng lên chủ nghiã xã hôi, không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.Trong sáng tác của nhiều nhà văn, ví như L.Tolstoi trước kia, hoặc Nguyễn Huy Thiệp ở Việt Nam bây giờ, thường có mô típ chủ đề được lặp đi lặp lại: “Lí tưởng chỉ có thể tìm thấy ở phía sau yên ổn, ở con trẻ ngây thơ, ở quan hệ gia trưởng nồng ấm, chứ không thể tìm thấy ở phía trước bất trắc, ở người lớn khôn ngoan, ở quan hệ tư bản “tiền trao cháo múc” lạnh lùng”. Đó cũng là biểu hiện của sự dị ứng với xu hướng hiện đại hoá.

[xii] Về quá trình phân rã của kiểu tư duy nguyên hợp, có thể tham khảo: Pelipenko A.A, Jakovenko I.G. Văn hoá như một hệ thống. M.: “Các ngôn ngữ văn hoá Nga”, 1998.

[xiii] Grois B.- Tái bút cộng sản, M.:Ad Marginem, 2007, tr. 7-8, 10.                                                             

[xiv] V.G. Belinski.- Bộ Tuyển 3 tập, t.3, Nxb Văn học nghệ thuật quốc gia, M., 1948, tr. 712.

[xv] Ghersen A.I.- Tuyển tập (bộ 30 tập), T.7, M., 1956, tr. 198.

[xvi] Lotman Iu.M.-  Đề cương về kí hiệu học văn hoá Nga// Sách: Những bài báo về kí hiệu học văn hoá và nghệ thuật, XPb,: “Academi projec”, 2002, tr. 233.

About lythuyetvanhoc

Bộ môn Lý luận văn học, khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm, Hà Nội
This entry was posted in la khắc hòa, nghiên cứu văn hóa and tagged . Bookmark the permalink.

Có 1 phản hồi tại Lã Nguyên – Vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử (Phần 1)

  1. Pingback: Lã Nguyên – Vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử (Phần cuối) | Lythuyetvanhoc's Blog

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s