Lã Nguyên – Vị thế của văn học trên sân chơi văn hóa trong tiến trình lịch sử (Phần cuối)

Phần 1

Sleeping Muse (Nàng thơ đang ngủ -1910), tác phẩm điêu khắc của Constantin Brâncusi (1876-1857), nghệ sĩ Rumani

4. Lời nghệ thuật và áp lực của những tiếng nói ngoài lời. Hơn hai thế kỉ đối thoại, lấn lướt, có lúc làm đảo ngược tương quan quyền lực, phê bình và tư tưởng hệ vẫn không thể đẩy văn học ra khu vực ngoại vi của sân chơi văn hoá các dân tộc. Nhưng hơn 50 năm trở lại đây, văn học có vẻ như không thể trụ vững ở vị trí trung tâm, ngày càng bị ép ra khu vực ngoại vi, nép vào cánh gà của sân chơi văn hoá.

Ai cũng biết, văn học bác học ra đời cùng với sự xuất hiện của chữ viết. Cho nên, sự tồn tại và phát triển của văn học luôn luôn phụ thuộc vào trình độ phát  triển  của văn hoá đọc. Thế mà từ nửa sau thế kỉ XX, khi điện ảnh phát triển rực rỡ, màn hình tivi có mặt trong từng gia đình, Internet trở thành phương tiện được phổ biến rộng rãi, nhất là khi mạng lưới truyền thông toàn cầu hoạt động mạnh mẽ, nhân loại bước vào kỉ nguyên tin học, văn hoá đọc đang từng bước phải nhường chỗ cho văn hoá nghe – nhìn. Tờ Tuoitre online số ra ngày 20 tháng 5 năm 2006 đưa tin: theo kết quả nghiên cứu vừa công bố của các tập đoàn giải trí lớn nhất của Mỹ, thì dân Mỹ được xếp vào hạng nghiện game hàng đầu thế giới. Một hoạ sỹ tên là Valente 29 tuổi cho biết, rằng mỗi tuần chị bỏ ra trung bình 30 giờ để chơi game online và chỉ riêng năm 2005 chị tiêu tốn 1500$ cho trò chơi ấy. Chị Valente không phải là ngoại lệ. Một cuộc thăm dò do AP-AOL Games thực hiện cho biết có đến 40% dân Mỹ tham gia chơi game. 45% game thủ của Mỹ chơi game online thường xuyên và trong năm 2005, mỗi game thủ này chi khoảng 200$ cho thú vui ấy. 42% game thủ online cho biết họ đã bỏ ra tối thiểu 4 giờ/tuần để chơi game, 17% cho biết họ thường chơi ở mức 10 giờ/tuần[i].

Nhưng thời gian dành cho sách ở 10 quốc gia ham đọc nhất hiện nay trên thế giới, theo số liệu đưa ra vào năm 2005 của “NOP World” (một tập đoàn lớn chuyên nghiên cứu thị trường sách) cũng chỉ là như sau: 1. Ấn Độ: 10,7 giờ/tuần, 2. Thái Lan: 9,4 giờ/tuần, 3. Trung Quốc: 8,0 giờ/tuần, 4. Philippin: 7,6 giờ/tuần, 5. Ai Cập: 7,5 giờ/tuần, 6. Cộng hoà Séc: 7,4 giờ/tuần, 7. Liên bang Nga: 7,1 giờ/tuần, 8. Thuỵ Điển: 6,9 giờ/tuần, 9. Pháp: 6,9 giờ/tuần, 10. Hunggari: 6,8 giờ/tuần[ii].

Sau khi số liệu trên được công bố, nhiều tờ báo của nước Nga cùng chạy hàng “titre”: “Nga không còn là đất nước đọc nhiều nhất thế giới”. Thậm chí, có tờ báo tuyên bố: Người Nga hầu như không đọc sách nữa![iii]. Trong hai ngày 22 và 23/3/2008, Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội toàn Nga đã tiến hành phỏng vấn 1600 người ở 46 tỉnh thành, tất cả những người tham gia đều trả lời rằng họ rất thích xem tivi, nhưng không có hứng thú đọc sách[iv]. Theo nguồn tin của tờ “Rianovosti”, từ ngày 11 đến 15/6/2008, tại Moscow, người ta tổ chức cuộc Liên hoan sách quốc tế (MMOKF) với hai hoạt động nổi bật: 1. trưng bày sách của tất cả các loại hình nghệ thuật có quan hệ với văn học, 2. hội thảo tìm nguyên nhân và giải pháp trước tình trạng hứng thú đọc ngày càng suy giảm ở các quốc gia Nga, Anh, Mĩ và nhiều nước khác. Một vài số liệu điều tra công bố ở đây cho thấy: thời Liên Xô, người Nga đọc 20 phút/tuần, nay họ chỉ đọc 6 phút/tuần[v].

Vị thế của văn hoá đọc ở Việt Nam chắc chắn không nằm ngoài quy luật vận động của văn hoá thế giới. GS Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường cho rằng, thói quen đọc sách của người Việt Nam mới được hình thành chưa lâu, “từ năm 1975 đến nay, văn hoá đọc của nhiều thế hệ liên tiếp vẫn chưa được hoàn chỉnh” và “điều đáng buồn và lo ngại hơn nữa là ngày nay có hai đối tượng cần phải đọc nhất là học sinh – sinh viên và những người lãnh đạo (ở mọi cấp, mọi lĩnh vực) lại là những người ít đọc sách nhất”[vi]. Chỉ cần vào “Google”, gõ từ chìa khoá “văn hoá đọc”, lập tức ta thấy hiện lên trên các trang mạng Dantri.com.vn, Laodong.com.vn, Toquoc.com.vn… những tiêu đề như thế này: Văn hoá đọc của chúng ta đang ở đâu?, Lo ngại về văn hoá đọc, Hẫng hụt văn hoá đọc, Văn hoá đọc của giới trẻ ngày càng xuống cấp, Văn hoá đọc trong trường phổ thông: Nỗi niềm ai tỏ… Đọc những bài báo ấy ta sẽ tìm thấy vô khối cứ liệu với những con số thống kê cụ thể đủ để ai cũng có thể tin rằng, nhận xét của Chu Hảo ở trên kia là chính xác, khách quan.

Dĩ nhiên, văn hoá đọc dẫu sa sút thế nào thì vẫn còn nhiều người rất ham mê đọc sách. Dù bi quan đến đâu, ta vẫn có thể khẳng định, văn hoá nghe – nhìn không thể thay thế văn hoá đọc – viết, bởi sự phát triển của một loại hình văn hoá này không thể dẫn tới sự triệt tiêu của loại hình văn hoá kia. Nhưng một khi nền tảng tạo nên văn hoá quyển của thời đại bị đảo lộn, thì vị thế của văn học trong đời sống xã hội chắc chắn sẽ thay đổi.

Từ trong nền cốt, văn học thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần. Thế mà đã mấy chục năm nay, văn hoá tiêu dùng ngày càng chiếm vị thế ưu thắng trong đời sống xã hội. Sự chi phối của văn hoá tiêu dùng khiến con người bao giờ cũng đặt kinh tế và các giá trị vật chất cao hơn giá trị tinh thần. Theo kết quả kết quả nghiên cứu về nhu cầu và ước mơ của người tiêu dùng tại 16 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á có tên “Eye on Asia™” do tập đoàn quảng cáo, tiếp thị và quan hệ công chúng toàn cầu Grey Group công bố, thì “một trong những yếu tố khiến người châu Á lạc quan và hạnh phúc là có đủ tiền. Đại đa số, 87%, tin vào điều này. Đặc biệt, 96% người Việt Nam và Đài Loan cho rằng có đủ tiền là yếu tố tạo nên hạnh phúc và sự lạc quan”, “chỉ có khoảng 30% người Việt Nam cho rằng công việc là niềm vui”[vii].  

Tôi chắc những ai quan tâm đến đời sống văn hoá của Trung Hoa đều biết, Đại hội văn nghệ Trung Quốc với sự tham gia của 3200 đại biểu đã diễn ra như thế nào vào tháng 10/ 1979. Đặng Tiểu Bình đã đến dự Đại hội và đọc lời chảo mừng. Tại diễn đàn Đại hội này, Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Kiên quyết giải phóng tư tưởng, mở cửa cải cách tiến theo thời đại, sáng tạo cái mới”. Một trong những “cái mới” mà họ Đặng chủ trương là đặt “xây dựng kinh tế” vào vị trí trung tâm của xã hội, đưa văn nghệ ra “biên duyên” (“ngoài rìa”) để tự do phát triển. Văn hoá tiêu dùng, nhất là cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay càng khẳng định vị trí trung tâm xã hội của nền tảng kinh tế. Báo Thanh niên số ra ngày 06/4/2009 chạy “Titre”: Chỉ đạo của Bộ Chính trị về tình hình kinh tế – xã hội: Ngăn chặn suy giảm kinh tế là mục tiêu hàng đầu[viii]. Trước đó mấy hôm, ngày 02/4/2009, Hội nghị Thượng đỉnh G20 khai mạc tại London. Sự kiện này chứng tỏ, kinh tế đã thực sự trở thành tâm điểm chú ý của toàn nhân loại.

Hoạt động kinh tế phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng, nhất là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin đang làm thay đổi tận gốc cơ cấu lao động của xã hội. Nhu cầu sử dụng lao động dịch vụ kĩ thuật của xã hội ngày càng lớn. Những người làm việc trong các lĩnh vực này thường có thu nhập cao, đời sống ổn định. Trong khi đó, khu vực thu hút nguồn nhân lực có tri thức khoa học cơ bản và khoa xã hội – nhân văn ngày càng bị thu hẹp. Số lượng các trường đại học và cao đẳng có đào tạo ngành văn chỉ chiếm một tỉ lệ vô cùng nhỏ bé trong trong hệ thống Giáo dục – Đào tạo hiện nay. Sinh viên tốt nghiệp các trường đại học xã hội – nhân văn rất ít có cơ hội tìm được việc làm, những người đang làm việc ở lĩnh vực này thường có thu nhập rất thấp. Đây chính là những nguyên nhân đã tác động mạnh mẽ nhất tới vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá. Nó khiến cho kinh tế không còn là câu chuyện thời sự nổi trên bề mặt của đời sống xã hội. Thực tế chứng tỏ, kinh tế đã tác động mạnh mẽ vào não trạng con người, làm thay đổi tư duy và phong cách diễn ngôn của thời đại.

Mới mấy chục năm trước kia, các diễn ngôn văn hoá thường dầy đặc mảng từ vựng chính trị, tư tưởng hệ, như “cách mạng”, “phản động”, “tư sản”, “vô sản”, thậm chí, đầy ắp những từ chiến tranh, như “mặt trận” (“văn hoá là mặt trận”), “vũ khí” (“văn học là vũ khí”), “chiến sĩ” (“nhà văn là chiến sĩ”)…Ngày nay, mảng từ vựng kinh tế lại xuất hiện dày đặc trong các diễn ngôn văn hoá. Bản tin Tưng bừng ngày hội tư vấn tuyển sinh 2008 trường ĐHSPHN  có đoạn viết: “…với uy tín về thương hiệu của Nhà trường và cùng với sự chuẩn bị công phu của Ban tổ chức, sự nhiệt tình của đội ngũ tư vấn, tình nguyện viên, hình ảnh của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được quảng bá rộng rãi…” (chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN)[ix]. Tờ “E-VNU Forum”, diễn đàn sinh viên Trường Đại học Kinh tế ĐHQG Hà Nội chạy hàng “titre”: “Xây Dựng Thương Hiệu Trường Đại Học Kinh Tế – ĐHQGHN” (chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN) [x]. Một bài viết trên tờ Việt báo được mở đầu bằng đoạn: “Hai chữ “thương hiệu” đang bước vào giảng đường đại học với việc tiếp thị sản phẩm đào tạo vốn là thứ tạo nên dấu ấn của một trường”(chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN) [xi]. Ở Việt Nam, các chữ “học hiệu”, “danh hiệu” đang được thay thế một cách tự nhiên bằng chữ “thương hiệu” như thế. Không chỉ có “thương hiệu đại học”, người ta còn nói tới “thương hiệu nghệ sĩ”: Thương hiệu nghệ sĩ: Không vô giá!”, hoặc “Một trong những thương hiệu có giá của giới nghệ sỹ Hà Nội là nhạc sỹ Phú Quang (chữ in đậm do tôi nhấn mạnh.- LN)[xii]….

Kiểu kinh tế hoá diễn ngôn văn hoá ở Việt Nam không phải là trường hợp cá biệt, ngoại lệ. Nhân Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại London, ngày 31/3/2009, Tổng thống Nga D.A.Medvedev có bài phát biểu đăng trên Washington Post, trong đó, đoạn nói về kì vọng ở quan hệ ngoại giao giữa hai nước Nga – Mĩ được viết như sau: “Tôi tin rằng sẽ là có lợi cho cả hai nước chúng ta cũng như cho thế giới, nếu chúng ta gạt bỏ những trở ngại này để đi đến một mối quan hệ song phương tốt đẹp khi chúng ta dọn sạch những khoản “nợ xấu”, để cải thiện bản quyết toán tài sản âm hiện nay” (Tiếng Anh:“I believe that removing such obstacles to good relations would be beneficial to our countries – essentially removing “toxic assets” to make good a negative balance shee – and beneficial to the world”. Những chữ in đậm do tôi nhấn mạnh –L.N)[xiii].

Một khi động mở miệng là nói chuyện kinh tế, lấy ngôn ngữ kinh tế để nói mọi chuyện trên đời, thì liệu mấy ai còn chú ý tới văn học? Mới đây, một tờ báo Nga gióng lên hồi chuông báo động: “52% người Nga không mua sách, 80% người Nga không bao giờ đến thư viện và chỉ có 9% những người đọc sách trong các thư viện (chủ yếu là thiếu niên và học sinh) còn tìm đến sách văn học”[xiv]. Lãnh đạo của nhiều Nhà xuất bản và các Trung tâm phát hành ở Việt Nam cũng cho biết, sách văn học, nhất là kiệt tác của các tác gia cổ điển, đang lâm vào tình trạng “ế ẩm”, vì nó không còn là “lựa  chọn  hàng  đầu” của  người  đọc, càng  không phải là  sách “gối đầu giường” của giới trẻ[xv]. Các ấn phẩm  bán chạy hiện nay chủ yếu là sách “Bí quyết thành công trong công việc”, sách giải trí, như truyện tình, truyện vụ án, truyện phiêu lưu mạo hiểm, nhất là truyện tranh. Một Phó Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng công bố, Đôrêmon là một trong số bộ sách được các bạn trẻ yêu thích nhất, nên hàng năm nó được xuất bản với số lượng rất lớn, từ 10.000 đến 15.000 bản[xvi].

Có một thực tế không thể xem là bình thường: trong các trường phổ thông, việc trò chán học văn, thày ngán dạy văn đã trở thành hiện tượng phổ biến[xvii]. Thậm chí, môn Ngữ văn đang bị đại đa số học sinh phổ thông trung học, nguồn nhân lực tương lai của xã hội, cự tuyệt, chối bỏ. Bằng chứng là, từ niên học 2006 – 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện phân Ban đại trà ở bậc trung học phổ thông “nhằm phân hoá và định hướng phát triển nghề nghiệp khác nhau theo nguyện vọng, năng lực và điều kiện cụ thể của học sinh”, với hy vọng “chủ động phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp THPT” để “làm giảm tỷ lệ học sinh chọn con đường thi vào đại học”. Nhưng sau 2 năm thực hiện, theo kết quả khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ có 6,4% học sinh lớp 10 trong cả nước theo học ban Khoa học Xã hội – Nhân văn (Ban C)[xviii]. Rất nhiều trường phổ thông không thể thành lập được Ban này vì không có học sinh nào theo học. Tờ SaigonNews, số ra ngày 14/8/2007, đăng một bài viết nhan đề: Phân Ban Trung học phổ thông: Coi chừng phá sản. Tờ Nhân dân điện tử cập  nhật ngày 08/01/2008 tiếp tục cảnh báo: Phân ban Trung học phổ thông: Đứng trước nguy cơ phá sản lần thứ tư!  Nhiều thày giáo, cô giáo ở trường phổ thông cho biết, học sinh theo học Ban C thường là những em có lực học yếu kém. Trên tờ Việt Báo, mạng thông tin Việt Nam ra thế giới, tác giả Bảo Anh cung cấp cho độc giả nhiều số liệu về thực trạng “tỷ lệ HS đăng ký vào ban KHXH-NV ngày càng giảm do nhiều gia đình, phụ huynh và HS nhận thức rằng khối ngành này ít triển vọng so với nhu cầu việc làm của xã hội”[xix]. Với những số liệu thu thập được ở nhiều trường phổ thông trong cả nước, Bảo Anh nêu ra câu hỏi đầy nhức nhối: Phân ban THPH: Nguy cơ “xoá sổ” ban Xã hội – nhân văn?[xx].

5. Lí luận văn học trước vị thế của văn học hôm nay

(Thay lời kết)

 5.1. Vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá là một hiện tượng lịch sử. Ở thời cổ – trung đại, “lời” là nơi tập trung mọi sự thông tuệ và văn học là tiếng nói đầy quyền uy. Ngay cả khi nhân loại đã chuyển qua kỉ nguyên hiện đại, người ta vẫn quan sát thấy khuynh hướng “văn hoá hoá văn học”, nên ở nhiều dân tộc, khu vực, văn học luôn chiếm giữ vị trí trung tâm của sân chơi văn hoá. Tuy nhiên,  kiểu sáng tác của văn học hiện đại, sự phát triển của công nghệ in ấn và báo chí đã mở đường cho sự xuất hiện của các thể văn học trung gian, văn chính luận và phê bình văn học. Phê bình cất lên tiếng nói đối thoại với văn học. Nó giành cho mình vai trò cầm trịch đối thoại. Nó nhân danh khoa học, xã hội và tư tưởng hệ để nhận xét, đánh giá, nói lời cuối cùng về tác phẩm. Nó đánh giá tác phẩm trong vai trò của nhân tố tổ chức, định hướng cho toàn bộ tiến trình văn học. Nghĩa là phê bình có tham vọng đảo ngược tương quan quyền lực giữa lời xã hộilời nghệ thuật. Lịch sử chứng tỏ, từ nửa sau thế kỉ XX, vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá phải đối mặt với những thách thức quyết liệt và nghiệt ngã. Văn hoá nghe – nhìn đang từng bước thế chỗ cho văn hoá đọc. Kinh tế đã chuyển vào vị trí trung tâm của đời sống xã hội. Văn hoá tiêu dùng tác động vào não trạng của con người làm thay đổi cách thức tư duy và kiểu diễn ngôn của thời đại. Cấu trúc lao động ngành nghề trong xã hội ngày càng thu hẹp chỗ đứng của những người muốn theo đuổi nghiệp văn. Những tiếng nói ngoài lời đầy quyền uy của sức mạnh vật chất tạo sức ép, đẩy lời nói nghệ thuật ra khu vực ngoại vi của sân chơi văn hoá. Vậy mà già nửa thế kỉ nay, đọc những chuyên luận, tiểu luận của giới nghiên cứu, những tài liệu giáo khoa, giáo trình đang được giảng dạy cho sinh viên các trường đại học, nghe những báo cáo, tham luận của các nhà văn, nhà thơ tại các hội nghị, hội thảo…, tôi thấy cả giới sáng tác lẫn giới nghiên cứu và những người quản lí văn nghệ đều một mực khẳng định không gì có thể thay thế vị trí rất mực quan trọng của văn học trong đời sống tinh thần của xã hội. Thế là lịch sử thì vận động, mà tư duy lí luận thì có vẻ đang dậm chân tại chỗ. Đó chính là lí do khiến nhiều nhà chuyên môn không đủ tự tin để cắt nghĩa một bài thơ hay một tác phẩm văn xuôi đang làm xôn xao dư luận. Cho nên, để phê bình không bất lực trước thực tiến sáng tác, để những khái quát lí thuyết về đặc trưng, bản chất, nhất là về chức năng, ý nghĩa của văn học trong đời sống xã hội không trở thành lời nhận xét sáo rỗng, người nghiên cứu phải khảo sát kĩ lưỡng vị thế của văn học trên sân chơi văn hoá qua những bước đi đầy thăng trầm của lịch sử. Nói rộng ra, mọi phạm trù của lí luận văn học cần được tiếp cận trước hết từ quan điểm lịch sử, chứ không phải từ quan điểm duy lí trừu tượng.

5.2. Việc văn học bị đẩy ra khu vực ngoại vi của sân chơi văn hoá chứng tỏ luận điểm của các vị kinh điển của chủ nghĩa Mác về bản chất thù địch của nền sản xuất tư bản đối với nghệ thuật và thơ ca cho đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự. Nhưng sản xuất tư bản và nền kinh tế thị trường dẫu thù địch với thơ ca và nghệ thuật thế nào thì văn học vẫn tiếp tục phát triển. Trên phạm vi toàn thế giới, qua nhiều thế kỉ vận động, tiến hoá, văn học hiện đại có vẻ như đang tự biến đổi, thác sinh vào những hình thái tồn tại mới để khẳng định vị thế trong đời sống tinh thần của xã hội. Các khuynh hướng hậu hiện đại, tân cổ điện với những biểu hiện vô cùng phong phú đa dạng đang hiện diện trên sân chơi của các nền văn hoá dân tộc chính là hình thái tồn tại mới của văn học trong sinh quyển của xã hội hôm nay. Vậy lí luận văn học cũng phải thác sinh vào một hình thái tồn tại mới, vươn lên một tầm cao mới thì mới đủ sức khái quát thực tế lịch sử mới của văn học nghệ thuật.

                                                                          Đồng Bát, 19.4.2009


[i] Xem:Dân Mỹ nghiện game hàng đầu thế giới//Nguồn: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=138788&ChannelID=16.

[iv] Nguồn: Nguồn:http://wciom.ru/arkhiv/tematicheskii-       

    arkhiv/item/single/10118.html?no_cache=1&cHash=a10b971f15                                                                                  

[vi] Chu Hảo – Văn hoá đọc của chúng ta đang ở đâu// Nguồn: http://www.laodong.com.vn/

     Home/Van-hoa-doc-cua-chung-ta-dang-o-dau/20084/83051.laodong/

[xiii] Dmitry A. Medvedev.- Building Russian-U.S. Bonds//

 Nguồn:http://www.washingtonpost.com/wp-dyn/content/article/2009/03/30/AR2009033002443.html

[xv]Xem:Thanh Hoà.- Văn hoá đọc đang “xuống cấp”//

 Nguồn:http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Van-Hoa-Hoi-Nhap/Van-Hoa-Doc-Dang-Xuong-Cap.html

[xvii] Xem: Trọng Nghĩa.- Chuyện buồn dạy văn thời @// Nguồn: http://dantri.com.vn/c20/s202-230125/chuyen-buon-day-van-thoi-.htm

[xviii] Dẫn theo số liệu được công bố tren : SaigonNews// Nguồn: http://www.saigonnews.vn/sncdetailnews.aspx?Item=29881&Kind=11

[xix] Một cán bộ nghiên cứu giáo dục cho chúng tôi biết số lượng học sinh lớp 10 theo học Ban “C” trong cả nước ngày càng giảm theo tỉ lệ % là như sau: Năm 2006: 6,4%; năm 2007: 4,88%, năm 2008: 2,77%, năm 2009: 1,82%.

[xx] Bảo Anh.- Phân ban THPT: Nguy cơ “xoá sổ” ban Xã hội – Nhân văn?// Nguồn: http://vietbao.vn/Giao-duc/Phan-ban-THPT-Nguy-co-xoa-so-ban-Xa-hoi-Nhan-van/20729067/202/

Advertisements

About lythuyetvanhoc

Bộ môn Lý luận văn học, khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm, Hà Nội
Bài này đã được đăng trong la khắc hòa, nghiên cứu văn hóa và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s